NẪU… TRÁCH THÂN !!!

VE-MAY-BAY-DI-TUY-HOA_zpsdeaf8636

NGƯỜI PHÚ YÊN ĐƯỢC GỌI LÀ “XỨ NẪU”?

Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào nhận trọngtrách Tống đốc Thuận Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam), ra sức củng cố cơ nghiệp đấtphương Nam theo lời dạy của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Một dải hoành sơn, đủ đểtạo cơ nghiệp muôn đời). Lúc ấy, Thừa Tuyên (đơn vị hành chính cấp tỉnh) QuảngNam kéo dài từ nam đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông.

Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan đưa lưu dân (người nghèo khôngsản nghiệp) khai khẩn vùng đất mới từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả. Sau 33 năm khai phá vùng đất mới, hình thành làng mạc, năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên (trực thuộc Thừa Tuyên Quảng Nam) gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Năm 1629, chúa Nguyễn PhúcNguyên (chúa Sãi) nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên (đơn vị hành chínhcấp tỉnh.

dat-ve-may-bay-di-tuy-hoa-de-thoa-noi-nho-thuong-mien-dat-laCả xứ Đàng Trong từ Quảng Bình vào Phú Yên có 7 dinh). Do đặc điểmcủa vùng đất mới còn hoang hóa, dân cư thưa thớt nên các đơn vị hành chính củavùng biên viễn có những nét đặc thù.

Dưới cấp huyện có cấp Thuộc, dưới Thuộc là các đơn vị hành chính nhỏ hơn như các phường, nậu, man. Phường là các làng nghề có quy mô như phường Lựa, phường Sông Nhiễu.Nậu là tổ chức quản lý một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, người đứngđầu gọi là đầu nậu.

Sách Đại Nam thực lục tiền biên ghi rõ: “Nậu, nguyên nghĩa là làm cỏ ruộng, rồi chỉ làng xóm vàsau nữa thành tên một đơn vị hành chính, quản lý một nhóm người có cùng một nghề.”Ví dụ: “nậu nguồn” chỉ nhóm người khai thác rừng, “nậunại”” chỉ nhóm người làm muối, “nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ” , “nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấymướn, “nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm…

Do sự phát triển của xã hội Đàng Trong, năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chú (1697-1738) cử Đại ký lục chính danh Nguyễn Đăng Đệ quy định phạm vi, chức năng của các đơn vị hành chính.

Các đơn vị hành chính như “Thuộc”, “Nậu” bị xóa bỏ. khái niệm thành tố chung cấp hành chính “Nậu” được biến nghĩadùng để gọi người đứng đầu trong nhóm người nào đó và sau này dùng để gọi đạitừ nhân xưng ngôi thứ ba.

“Không gian Nẫu” gồm hai tỉnh Bình Định, Phú Yên và vùng Tu Bông (Khánh Hòa).

Từ “Nậu” không xuất hiện độc lập mà chỉ có mặt trong các tổ hợp danh ngữ.
Ví dụ:
Chiều chiều mây phủ Đá Bia
Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng
Mất chồng như nậu mất trâu
Chạy lên chạy xuống cái đầu chôm bơm
Năm bảy tháng trời nậu lạ tới câu
Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên

imagesTừ chữ “Nậu” ban đầu,phương ngữ Phú yên – Bình Dịnh tỉnh lược đại từ danh xưng ngôi thứ ba (cả sốít và số nhiều) bằng cách thay từ gốc thành hỏi. Ví dụ: Ông ấy, bà ấyđược thay bằng: “ổng”, “bả”. anh ấy, chị ấy được thay bằng: “ảnh”, “chỉ”.

Và thế là “Nậu” được thay bằng “nẫu”.Nẫu đã đi vào ca dao Bình Định, Phú Yên khá mượt mà, chân chất:
“Thương chi cho uổng công tình.
Nẩu về xứ nẩu bò mình bơ vơ”.

Phương ngữ Thuận Quảng (Thuận Hóa – Quảng Nam) với “mô, tê, răng, rứa, chừ” vượt qua đèo Bình Đê (ranhgiới Bình Định – Quảng Ngãi) được đổi thành “đâu, kia, sao, vậy, giờ”.

Và đặc trưng ngữ âm của vùng Nam Trung Bộ (Bình Định – Phú Yên) không phân biệt rạch ròi cách phát âm dấu hỏi và dấu ngã.Đặc biệt, bà con vùng biển từ Hoài Nhơn (Bình Định) đến Gành Đỏ (Phú Yên), các âm dấu ngã đều phát âm thành dấu hỏi. Riêngđồng bằng Tuy Hòa, khi phát âm không phân biệt được dấu hỏi và dấu ngã.Bởi vậy, “Nẫu” hayđược phát âm là “Nẩu”. Đồng bằng Tuy Hòa trù phú, nhiều nhà giàu trong vùng chocon cái đi học chữ phương xa.Các vị có chữ nghĩa viết chữ “Nẩu” theo phát âm quen miệng thành chữ “nẫu”. Một thời cơ cực, thành ngữ “buồn nẫu ruột”, “tráicây chin nẫu” (chin úng)… cũng góp phần hóa thân chữ “Nẩu” thảnh chữ “Nẫu”. vậylà chữ “Nẫu” theo kiểu phát âm phương ngữ trở thành từ cửa miệng, đi vào thơca, báo chí.

hqdefaultTrong những ngữ cảnhcụ thể, “nẫu” còn là đại từ nhân dân ngôi thứ hai và cả ngôi thứ nhất. đơn cử, “thâuxửng rầu, nẫu dìa (Thôi, mưa tạnh rồi, em về), “nẫu” trong ngữ cảnh này là ngôi thứ nhất.
Hoặc “nẫu nói dậy nẫu nghe được hôn” (anh nói vậy em nghe được không)– nẫu trong ngữ cảnh này là ngôi thứ nhất nói với ngôi thứ hai.Đặc biết, chữ “nẫu”chết tên với vùng đất Phú yên khi nhạc sĩ Phan Bá Chức ký âm bài Trách phận (còn gọi là Nẫu ca”) dân ca Phú yên theo điệu XuânNữ của dân ca bài chòi khu V do Nguyễn Hữu Ninh sưu tầm trong dân gian được thểhiện bởi nghệ sĩ Hoài Linh – Việt kiều gốc Phú Yên. Hồi còn tỉnh chung Phú Khánh, Ba Đa Rằng này làm thư ký giúp việc cho nhà thơ Văn Công, (quyền chủtịch tỉnh), theo ông về các địa phương thúc giục chuyện nghĩa vụ “lúa, lang,lợn, lạc” cho tỉnh.

Tỉnh quá xa, địa phương nào cũng có nhu cầu phát triểnriêng của mình, tìm mọi cách giữ lại chút ít để “lo phận mình”, tỷ như xây dựngtrụ sở UBND thị xã Tuy Hòa năm 1985, bị quy chụp là cục bộ. Bà con không buồn phiền gì về chuyện đó và bào chữa thật dễ thương: Tỉnh dài, huyện rộng, xã to.
Nẫu lo phận nẫu mình lo phận mình.

Còn nếu cán bộ cấp trên về ép việc này việc nọthì cũng có câu phản kháng nhẹ nhàng: Nẫu dìa (về) thì mược nẫu dìa.
Lăng xăng lít xít nẫu chê nẫu cười.
Còn Ba Đà Rằng này tài sơ trí thiển
Nẫu nói gì mược Nẫu (người ta nói gì mặc người ta),

Cũng bạo gan trao đổi đôi điều về “Nậu– Nẩu – Nẫu” như một nhàn đàm vui.

(source from TuyHoa City) / Phan Nguyên Luân… thực hiện

This entry was posted in 1- Sinh Hoạt Đồng Hương Phú Yên, Nhạc của Xứ Nẫu, S/H Đồng Hương - Bài Viết Sinh Hoạt. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s