ĐỪNG MẶC CẢM… VÌ, KHÔNG AI CÓ THỂ ĐỒNG HÓA AI !!!

11006_rongtien-628x428

Một vài văn/thi/nhạc sĩ thường hay khóc lóc kêu ầm làng nước, hết thở than “Một ngàn năm đô hộ giặc Tầu”, “da vàng mũi tẹt, thân phận nhược tiểu”, lại khóc mếu bị Hán hoá, bị lai Tầu, mà không tính tới việc nguồn gốc của bất cứ dân tộc nào cũng bắt đầu từ nhiều sắc tộc, sinh tụ tại một điểm và từ đó nảy sinh ra một dân tộc mới. Từ Do Thái là một dân tộc cổ đến Hoa Kỳ là một dân tộc non trẻ, đều là những pha trộn hết sức phức tạp. Có lẽ đã đến lúc nín khóc, bình tĩnh nhìn lại quá khứ:

    1. 2000 năm trước chưa có biên giới, chưa có các “nước”, không sổ thông hành, không chiếu khán, chỉ có vùng đất và cư dân sống trên mảnh đất đó.

dna1bb11

  1. Từ thời Xuân Thu “bên Tàu” cho đến thời Lý Công Uẩn Đại Việt, trong gần hai nghìn năm, các tiểu chi Âu Lạc tản cư nhiều đợt vào đồng bằng sông Hồng, “mỗi khi pên Tàu có loạn”.
  2. Chỉ đám quan lại Trung Hoa mới áp đặt chính trị, quân sự và tổ chức hành chánh của phương Bắc lên cư dân sông Hồng, kỳ dư cũng chỉ là dân chạy loạn, mà đa số là dân chủng Bai Yue/Việt cổ.
  3. Không tài liệu nào cho biết bao nhiêu người Hoa Bắc, bao nhiêu ngừơi Hoa Nam. Có điều chắc chắn có rất ít người Hán Hoa Bắc sang Giao Chỉ ở lâu dài nổi, vì không chịu nổi khí hậu. Nếu gốc gác họ ở miệt Hoa Nam, thì 100% họ là Yue/Việt cổ
  4. Hoa Bắc hay Hoa Nam, cũng chỉ vài đời là tan biến vào cư dân sông Hồng và cùng chịu chung một định mệnh trên vùng đất mới.
  5. Chính sự truởng thành trong học tập và chiến đấu gian khổ đã tạo nên nòi giống Việt. Hậu duệ của giòng nhập cư từ phương Bắc biến bức tranh di tản thành một kịch bản hết sức oái oăm cho “thiên triều” : Lý Bí và Lý Công Uẩn xưng vương, mở đầu một trang sử độc lập cho dân Âu Lạc. Năm 1075, Lý Thường Kiệt mang 100.000 binh sang đánh quân Tống ở Ung Châu (Nam Ninh bây giờ), trong khi dân số Đại Việt chỉ 2.200.000 người, đủ hiểu triều Lý rất tự tin về gốc gác thần dân trong nước, không ngại đám dân dù có gốc từ phương Bắc, vì biết họ đồng chủng Việt.
  6. maxresdefaultNhững Mai, Đinh, Lí, Lý, Lê… trong Mai Hắc Đế, Đinh Bộ Lĩnh, Lí Bí, Lý Công Uẩn, Lê Lợi… không chắc có phảỉ là “họ” không, hay chỉ là tên của bộ tộc nhỏ? Nếu điểm này được sử gia giải thích, có thể mang lại khám phá bất ngờ về thành phần những bộ tộc nào đã làm nên dân tộc Việt, hơn là diễn tả dân Việt gọn gàng là “dân ta”, không rõ “ta” là ai.
    Vạn Xuân : Mong ước “Giang san còn hoài đến hàng vạn mùa xuân”

Một trong những hậu duệ ngoạn mục của người nhập cư từ “bên Tàu” là Lý Bí (hay Lí Bí?). Theo Sử, Lý Bí (503-548) là người Thái Bình, phủ Long Hưng (Sơn Tây). Tổ tiên Lý Bí là người Trung Quốc, cuối thời Tây Hán khổ về việc đánh dẹp, mới tránh sang ở đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam ”. Chính sử Trung Hoa coi Lý Bí là “Giao Châu thổ nhân”.

a1-2479c-500x300Còn sử Việt Nam, kể cả các sử gia tân thời và sử gia tài tử, hễ cứ ai ở “bên Tàu” là coi như người Trung Quốc hết mà không bao giờ soi sáng lại nguồn gốc. Tổ tiên của Lý Bí tản cư sang Giao Chỉ trước thời Hai Bà. Có sách nói 500 năm, có sách nói 11 đời. Con số 500 năm đúng hơn. Lý Bí đã từng làm quan cho nhà Lương ở Giao Chỉ, nhưng ông bỏ về. Năm 544, tháng giêng, ông tự xưng là Nam Việt Đế – hoàng đế phương Nam – đặt niên hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân. Nếu nhớ ơn Hai Bà là bậc nữ anh hùng đầu tiên trong lịch sử, cũng phải nhớ ơn Lý Nam Đế là người mang nước Việt ra khỏi hình thức bộ lạc. Thông suốt chính trị Bắc triều, Vua tự tin dựng điện Vạn Thọ, (Hà Nội), dựng chùa Khai Quốc, cho đúc tiền đồng. Từng ấy việc trong thời gian ngắn 4 năm, Lý Bí không ngờ ông đã đặt tiền đề: từ đây nước Việt thoát khỏi thời kỳ u tối 1000 năm Bắc thuộc.

Lần đầu tiên sau thất bại của An Dương Vương, một “nước” được thành lập ở đồng bằng sông Hồng, gồm hợp chủng Negrito + Mon-Khmer + Mélanesian + Âu-Lạc trước An Dương Vương + Âu-Lạc nhập cư từ “bên Tàu”. Đó cũng chính là cư dân của Hà Nội thuở bình minh. người Việt hiện giờ là hậu duệ của từng ấy sắc tộc.

Bởi thế, dân tộc Việt thuộc dòng “Bách Việt”, chúng ta có quyền tự hào, nhiều sắc tộc ở Bắc Hoa di cư, và hòa tan sống chung với dân tộc Việt cổ, họ đã chịu ảnh hưởng văn hóa, phong tục và cách sinh hoạt dân sinh tại đây. Vậy ta có thể nói, không ai có thể đồng hóa ai, và nếu ai đó “mặc cảm” nghĩ người Trung Hoa đồng hóa người Việt Nam, thì ta cũng có thể nói ngược lại “người Việt đã đồng hóa người Trung Hoa” từ ngàn xưa!.. Hãy luôn tự hào dân tộc, nòi giống và luôn giữ gìn, phát triển để dân tộc và đất nước cường thịnh !!!

(source from tài liệu: Cảo Di Sử Học) / PHAN NGUYÊN LUÂN… thực hiện

This entry was posted in 5- Tin Tức, 6- Văn Học, QUÂN SỬ VNCH, Tạp Ghi. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s