MÙA THU CHẾT …

Ý NGHĨA BÀI MÙA THU CHẾT CỦA PHẠM DUY

Trích hồi ký “Ca Nhạc Sĩ Sài Gòn trước 1975” cùa Nguyễn Việt – MTSG

Mùa thu chết được Phạm Duy sáng tác năm 1965, rất nổi tiếng trong thập nên 70 ở miền Nam,lấy ý từ bài thơ L’Adieu của Guillaume Apollinaire.
“Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch thảo
Em nhớ cho : Mùa Thu đã chết rồi !”
Hoa Thạch thảo.
1/- Theo Lê Trung Ngân : “Hoa Thạch thảo (Aster amellus L) thuộc họ Cúc (Asteraceae). Tất cả các loại thạch thảo đều trong gia đình Ericaceae, có một loại hoa thạch thảo duy nhất thuộc giống Calluna, ngoài ra là loại Erica.
Tại Việt Nam, người miền Nam hay gọi là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, người Bắc gọi là Thạch thảo. Thạch thảo hay mọc thành bụi, nhiều bong với cánh đơn xoè rộng ra. Hoa Thạch thảo có ba màu chính: tím, hồng, trắng. Thạch thảo ngày nay được lai tạo thêm thành loại hoa cánh kép.
Hoa Thạch thảo cánh mối cũng như các loại hoa cúc thường nở vào mùa Thu, khi mà đa số các loại hoa khác đã tàn.
Như vậy, hoa Thạch Thảo (hay cúc Sao, cúc Nhật, cúc Cánh Mối) là 1 tên Việt của loài Aster amellus L. thuộc họ Cúc (Asteraceae), tên Anh ngữ là Aster và Pháp là Astère. Nhóm Cúc (cả trồng làm hoa hay mọc hoang) thường được gọi chung là Chrysanthemum/Aster, trong đó các loài mọc hoang thường có 1 chùm lông ở cuối mỗi hột (khi trái chín) và phát tán nhờ gió (nên mọc hoang, rải rác vào mùa xuân khi có nắng ấm ở Âu châu, hoa chỉ sống trong vài tháng! ).
    Các loài cúc trồng thì không phát tán tự nhiên được vì hột không có lông như Vạn Thọ (marigold), cúc Giấy (zinnia). Có loại được trồng từ hột, có loại trồng bằng củ; cúc Thạch Thảo (cúc sao/Aster), và nói chung loại nhiều loại cúc thường trồng từ cây con nhảy chồi (do mọc thành bụi, hoa thường bất thụ).
Hoa Thạch thảo Âu châu là thuộc cây Bruyère (tiếng Pháp) hay Heather (tiếng Anh) còn gọi là Common Ling hay Briar. Nếu nói về ý nghĩa của màu hoa Thạch thảo thì Thạch thảo trắng tượng trưng cho sự che chở, cho sự mong mỏi. Thạch thảo mầu hồng tượng trưng cho may mắn, và màu xanh lạt lavender tượng trưng cho cô đơn, sự hâm mộ thán phục.
2/. Bùi Giáng dịch L’Adieu của Guillaume Apollinaire (1880-1918) :
L’Adieu
J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automne est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends
Bản dịch của Bùi Giáng
Lời vĩnh biệt
Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng đựợc nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó …
3/. Guillaume Apollinaire (August 1880- November 1918)
Guillaume Apollinaire : tên thật Wilhelm Albert Vladimir. Là nhà thơ Pháp gốc Ba Lan, sinh ở Roma, Italy. Nãm 1887 Wilhelm Kostrowitzky cùng gia đình mẹ chuyển về Monaco và học ở Monaco, Cannes.
Từ nãm 1899 chuyển về sống ở Paris, làm thơ, viết báo với bút hiệu Guillaume Apollinaire, ông cộng tác với một số tờ báo như La Revue blanche, La Plume và Le Mercure de France. Năm 1903, ông lập ra các tờ tạp chí của chính mình Le Festin d”Esope (November 1903-August 1904) và La Revue immoraliste (1905).
Năm 1912 ông cùng bạn bè thành lập tạp chí “Les soirées de Paris” và làm chủ bút từ năm 1913. Cũng trong năm này in bài thơ nổi tiếng nhất của ông : Le Pont Mirabeau và trường ca Zone. Năm 1913 ông phát hành tập thơ Alcools (Rượu), và năm 1914 có xuất bản một số bài thơ viết theo kiểu tạo hình.
Apollinaire mất ngày 9 tháng 11, năm 1918 tại Paris. Mộ ông chôn ở nghĩa trang Père Lachaise ở Paris.
Apollinaire làm bài thơ L’Adieu sau khi đi thăm mộ con gái của Đại Văn hào Victor Hugo vào ngày 16 September 1913. Arnaud Laster, Giáo sư văn chương tại trường Sorbonne (University of Paris III), trong một bài viết đã đặt câu hỏi : “Có phải Apollinaire đã viết bài L’Adieu này để tưởng nhớ Victor Hugo sau khi đi thăm mộ người con gái của Hugo tên là Léopoldine đã chết đuối cùng chồng ở biển tại tỉnh Villequier vào năm 1843”. Bài này có thể có liên hệ với bài Demain, dès l’aube của Victor Hugo và là nguồn cảm xúc để Apollinaire sáng tác bài L’Adieu chăng ?
Hoa Thạch thảo (bruyère) được nhiều Thi sĩ mang vào Thơ, nhưng có thể nói rằng hoa Thạch thảo đã được đời đời gắn liền với bài thơ Demain, dès l’aube của Victor Hugo và L’Adieu của Guillaume Apollinaire.
Có phải chăng thu miền viễn đông,
Nơi có Thạch thảo mọc ven sông,
Hoa chuông nho nhỏ vờn trong gió
Gợi nhớ thành sầu trĩu mênh mông ?
(Bài Viết của NNS)
NÓI VỀ NHẠC SĨ PHẠM DUY
Ý Nghĩa nhạc phẩm “Mùa Thu chết”
Khi NNS nói đến bài thơ L’Adieu của Guillaume Apollinaire, nhắc đến Hoa Thạch Thảo không ai không nhớ đến nhạc phẩm “Mùa Thu Chết” của nhạc sĩ Phạm Duy.
Và khi nói đến nền tân nhạc miền Nam nếu không nói về Phạm Duy quả thiếu sót, không phải Phạm Duy thuộc hàng cổ thụ, có quá trình sáng tác dồi dào từ dân ca, nhạc trẻ, trữ tình lãng mạn, nhạc lá cải cho đến nhạc được đặt hàng theo yêu cầu, chỉ thiếu một thứ Phạm Duy chưa soạn thứ nhạc quảng cáo dùng cho băng vệ sinh, thuốc tăng lực như các nhạc sĩ có tên tại Sài Gòn hiện nay vẫn làm.
Trước ngày 30/4, Phạm Duy thường cho rằng ông là niềm vinh dự của chính phủ lúc bấy giờ, vì chính Phạm Duy từng nói : “… chính phủ phải sử dụng đến tôi, nếu ở Hà Nội có Văn Cao thì ở Sài Gòn chỉ có Phạm Duy để tạo thế cân bằng văn nghệ giữa hai miền, thuộc ngón đòn tâm lý chiến chính phủ cần sử dụng”.
Có lẽ vì vậy sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đỗ, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương lúc này do tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch, giao Phạm Duy cho bộ Công Dân Vụ do Nguyễn Tôn Hoàn chủ đạo; sử dụng Phạm Duy trong chiến dịch “Bình Định Nông Thôn” làm chiêu bài thu hút thành phần SVHS tham gia, một chiến dịch không phải đi cất nhà, làm đường cho dân quê mà để mật vụ đặc nhiệm lùng sục bắt bớ du kích Việt Cộng nằm vùng. Chiến dịch được Mỹ tài trợ, Phạm Duy đưa SVHS đi vào vùng sâu vùng xa hát cho dân quê nghe những bài như “Giọt mưa trên lá” mới sáng tác không lâu v.v…
Hay từ năm Mậu Thân trở đi Mặt trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) công cụ của Bắc Việt đang bành trướng, Phạm Duy liền có bài “Mùa Thu Chết” để đánh đòn tâm lý chiến với các chiến binh cộng sản chính quy cũng như du kích địa phương.
Thật ra Phạm Duy phổ bài “Mùa Thu Chết” theo một thi ca trữ tình lãng mạn của Pháp. Nhưng lúc phổ biến nhạc phẩm ra công chúng, lại vào rơi vào khoảng không gian khi Hà Nội và MTGPMN hô hào kỷ niệm cuộc Cách Mạng tháng 8 còn gọi Cách Mạng Mùa Thu.
Vậy ý nghĩa “Mùa Thu Chết” là gì ? Phải chăng nên hiểu, Cách Mạng Mùa Thu sẽ không tồn tại, mà không tồn tại có nghĩa miền Bắc sẽ không còn Cộng Sản, vì đã vào tay người miền Nam (?), bởi lúc này tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ đang hô hào Bắc tiến. Để rồi có một Bạch Tuyết và một Thẩm Thúy Hằng ngồi tại một tiền đồn heo hút trên đầu đội nón sắt lính VNCH mang hàng chữ “hãy bỏ bom Bắc Việt”, được in chần dần trên tờ Time và Newsweek dạo đó ai cũng thấy.
Phạm Duy tiếp tục ca tụng một Phạm Phú Quốc rớt máy bay chết tại một cây cầu miền Bắc với bài “Huyền thoại ca một người mang tên Quốc” hay bài “Kỷ vật cho em” ca tụng những người lính đã bỏ mình vì nước.
Nguyễn Cao Kỳ ưu ái đến Phạm Duy qua chiến dịch “Bình định nông thôn” hay những nhạc phẩm Phạm Duy ca ngợi người lính VNCH và cho cả ông ta.
Sau khi Đài Truyền Hình số 9 được Mỹ xây dựng lên vài năm (hình thành sau ngày Ngô Đình Diệm bị lật đỗ), Phạm Duy từ bên Công Dân Vụ được cắt cử về trông phần văn nghệ của đài.
Từ khi Phạm Duy về làm ở Đài truyền hình số 9, nhiều “đại gia văn nghệ” tranh nhau miếng đất màu mở này để kiếm tiền, không phải tiền “chương trình” được đài chi trả – vì thù lao chẳng có là bao, một show ca nhạc 45 phút được trả tối đa 20.000đ bấy giờ (khi vàng 24K mới hơn 30.000đ/lượng), bao gồm chi phí cảnh trí, ca sĩ, nhạc phẩm, nhạc công và các tạp vụ khác. Tính chi li mỗi nhạc phẩm được ca sĩ trình diễn, bình quân chỉ có 2.000đ, trong khi bầu show phải trả thực tế tiền cát-xê cho ca sĩ như Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy từ 5.000 đến 10.000đ/bài, trung bình như Giao Linh, Phương Hồng Quế từ 3.000 đến 5.000đ/bài, tức nếu có một chương trình trên Đài số 9, ông bà bầu show đều chịu lỗ (một show ca nhạc 45 phút thường gồm 9 đến 10 ca khúc) nhưng các ông bà bầu show vẫn làm và làm càng xuất sắc, lý do mỗi khi họ có chương trình trên truyền hình thì họ sẽ có tất cả : tiền quảng cáo nhạc phẩm do nhạc sĩ sáng tác hay các nhà xuất bản porter bỏ ra chi phí, đôi khi chi cả tiền “poa” cho caméraman để có góc cạnh đẹp; Còn bầu show được tiếng có chương trình hay, lò nhạc hay đại nhạc hội, phòng trà khiêu vũ trường của họ được nổi tiếng là cách gián tiếp tiếp thị quảng cáo rất có trọng lượng, riêng các nhạc sĩ hay nhà xuất bản nhạc những người bỏ tiền chi phí cho màn trình diễn của ca sĩ cũng hốt bạc do poster bán rất chạy. Và chính Phạm Duy thuộc loại “ngư ông đắc lợi”, ngoài việc bầu show có nghĩa vụ “điếu đóm” lại được chính quyền khen ngợi là một thiên tài văn nghệ.
Đài TH số 9 thời Phạm Duy là như thế, các ông bà bầu show người có khả năng nghề nghiệp, người chỉ là dân i-tờ trong làng văn nghệ, đúng là bát nháo ! Nhưng Phạm Duy lại hãnh diện bởi công việc của mình, và để góp thêm phần bát nháo, Phạm Duy sáng tác những bài hát như Sức mấy mà buồn, Bỏ qua đi Tám mà ông gọi là “Tục Ca” hay nhạc vĩa hè, nhạc cái bang.
Giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ có nhận xét, Phạm Duy đã đánh mất cái tôi của mình, hiện thân một người xu thế, nhạc sĩ của mọi thời, một người có vòng quay 180 độ. Khi Tạ Tỵ viết về Phạm Duy trong cuốn “Phạm Duy còn đó nổi buồn” tuy không lên án và có phần bênh vực cho một người đang bị xã hội chê cười, vẫn đánh giá “Phạm Duy hôm nay không còn là Phạm Duy ngày xưa nữa !”
Ở trào ông Diệm, Phạm Duy cùng với các xếp Trần Kim Tuyến, Nguyễn Tôn Hoàn phát động phong trào Bình Định Nông Thôn với áo bà ba đen, vỗ ngực là người của 9 năm kháng chiến chống Pháp để mà mị những người dân ruộng đồng chất phát luôn sùng bái những ngày đánh Pháp, ở chiến dịch này Phạm Duy có các bài hát “Ngày trở về”, “Giọt mưa trên lá”, qua thời Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh do phong trào SVHS đang cuồng nộ với chế độ quân sự, Phạm Duy đưa ra những bản nhạc Du ca để đánh bóng tên tuổi khi những Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên làm mưa làm gió về tình ca, được sự yêu chuộng của giới trẻ các nơi. Phạm Duy viết những nhạc phẩm như Kỷ vật cho em, Người tình không chân dung, Huyền sử ca một người mang tên Quốc, Mùa thu chết (hình thức nhạc tâm lý chiến), Phượng yêu, Tóc mai sợi vắn sợi dài (loại nhạc tình ca)… để tranh thủ cảm tình tầng lớp người trẻ đã đánh mất và lấy lòng chánh quyền.
Đến đời Nguyễn văn Thiệu, Phạm Duy không còn làm ở Đài số 9, liền nhảy sang cộng tác với nhóm Văn Hóa Mỹ của đài phát thanh Tiếng nói Tự Do, làm cố vấn các chương trình chiến tranh tâm lý.
Phạm Duy còn là “thợ sáng tác” theo đơn đặt hàng của các nhà xuất bản hay các hãng băng nhạc, vì chỉ trong vòng vài ngày Phạm Duy có ngay tác phẩm theo yêu cầu. Tôi có nghe nhà phát hành Minh Phát lúc đó – nằm ở góc Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực bây giờ – nói nhạc Việt hóa tức nhạc ngoại quốc lời Việt đang thịnh hành nên có đặt Phạm Duy phổ lời cho cả chục bài để xuất bản, tôi nói sáng tác như vậy lấy gì là hay, ý tứ đâu mà chỉ trong vài ngày là xong cả chục bài hát ? Ông Minh Phát cười trả lời, chỉ cần cái tên trên bản nhạc là hốt bạc rồi, cần gì lời ca !? Do mình nhái tên Phạm Duy không được đành phải mua cái tên với giá 100.000đ một bài, nhiều khi Phạm Duy còn để cho con cái phổ nhạc không chừng – con Phạm Duy – Thái Hằng là Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo ban The Dream’s còn con dâu là Julie Quang –
Con người Phạm Duy cũng rất trần tục, nhớ lại những năm đầu di cư vào Nam 1954; báo Sàigòn Mới của bà Bút Trà đã làm rùm cái chuyện “Phạm Duy ăn chè Nhà Bè”, một scandal của làng tân nhạc thời bấy giờ, báo Sàigòn Mới kể rằng : Phạm Duy trốn vợ để dẫn cô em vợ Khánh Ngọc xuống tận Nhà Bè hú hí, nhưng trời bất dung nhan Thái Hằng biết được đánh ghen um sùm, các báo lúc đó như SàiGòn Mới, Tiếng Chuông, Dân Chúng thi nhau khai thác, khiến Phạm Duy phải cầu cứu với Bộ Thông Tin yêu cầu các báo ngưng loạt bài đó.
Vào năm 1972 hay 73 gì đó, Phạm Duy được mời tham dự cuộc thi Nhạc Pop tại Nhật, cùng Ngọc Chánh, Thanh Lan mang chuông đi đánh xứ người với hai nhạc phẩm “Tuổi biết buồn” và “Bao giờ biết tương tư. Chuyện đáng nói trong chuyến đi dự thi, ban tổ chức cuộc thi không biết điều khiển phần hòa âm phối khí bài Tuổi biết buồn như thế nào, còn bài Bao giờ biết tương tư chỉ mang tính biểu diễn. Vì rằng phần hòa âm phối khí của Phạm Duy quá lỗi thời đến chục năm so với tiến bộ của thế giới nói chung và Nhật Bản nói riêng. Hòa âm bài “Tuổi biết buồn” của Phạm Duy chỉ sử dụng chừng mười nhạc khí, còn hòa âm tại cuộc thi nhạc Pop là cả dàn đại hợp xướng, sử dụng hàng mấy chục nhạc khí.
Thanh Lan khi trở về đã mô tả, họ phải hòa âm lại hết và chỉ cho cô ca thử một lần khi tổng dượt, nên không thể nào hát hay được, lại thêm khi trình diễn với sân khấu quay 4 chiều càng làm ca sĩ bị khớp, nên kết quả bài “Tuổi biết buồn” đứng cuối bảng xếp hạng, còn Phạm Duy chẳng cần chuyện có thứ hạng hay không, vì thời đó mốt xuất ngoại để hưởng thụ đang thịnh hành, mỗi khi được ra nước ngoài nếu không là du học sinh thì phải thuộc tầng lớp ông nghị trở lên với mác đi công vụ… Phạm Duy là thế !

(Trích hồi ký “Ca Nhạc Sĩ Sài Gòn trước 1975” cùa Nguyễn Việt)

| PHAN NGUYÊN LUÂN |… thực hiện

This entry was posted in 6- Văn Học, Chốn Văn Chương. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s