QUA ĐÈO NGANG… VẦN THƠ TUYỆT TÁC của BÀ HUYỆN THANH QUAN (part 1)

Image may contain: 1 person

QUA ĐÈO NGANG…
THƠ ĐƯỜNG TUYỆT TÁC của BÀ HUYỆN THANH QUAN!!

(part 1)

Hôm qua trên VietStar Radio, một người bạn già (thính giả) hỏi tôi: ” Tại sao khi nhắc đến Bà Huyện Thanh Quan, người ta chỉ nhắc bài thơ Qua Đèo Ngang ? ”

Uhm…, Lâu quá không đọc lại tôi quên mất rồi. Nhớ mang máng thì bài ” Qua đèo Ngang” được giới thiệu trong văn học của VN trước 1975… Và sau biên cố quốc nạn Viet cộng xâm chiếm mien Nam, cũng chưa từng có người nào hỏi tôi câu này… Chữ thầy trả lại cho thầy hết trơn rồi… mặc dầu sau 1975 trong bộ giáo duc Việtc cong khong bao giờ cho học những gì khong có lợi và khong có tuyên truyền cho chế độ khát máu VC…

Cũng may, ba tôi bị công sản bắt đi tù, nhưng ba để lại môt kho sách trên nóc nhà (trong nhà tắm)… thê là có dịp cho thằng con “đôt giai đoạn” thời gian bằng cach đọc “ngấu nghiến” sau khi khám phá được “tàng kinh cát”… Trong và trên 300 cuốn sách và truyện, vô tinh tôi đã “nuốt” dươc “bộ kinh” nói về nhân vật “độc cô cầu bại” về thơ Đường của dan tộc Lạc Việt…

Nhân hôm nay có thính giả đặt câu hỏi về nhân vật này, tôi lục lại “kho” tâm thức, moi ra và sẵn cô người bạn thâm giao đã viết về Topic này, luôn tiện chia sẻ với thính giả và bạn đọc trên FB này….

Vâng, đây bài thơ QUA ĐÈO NGANG

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá , lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ ( chợ ) mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta…

Bà Huyện Thanh Quan là một nữ sĩ kiệt xuất của dòng thơ Nôm, thi tài lỗi lạc của Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX. Thơ của bà để lại được chính thức công nhận là 6 bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật, đó là : Qua đèo Ngang , Chùa Trấn Bắc, Thăng Long hoài cổ , Cảnh chiều hôm, Chiều hôm nhớ nhà , Cảnh thu. Chúng đều là những bài thơ tả cảnh , đẹp như những bức tranh thủy mặc chấm phá, nhưng không chỉ có vậy, đây lại là những bài thơ mượn cảnh để gửi gắm tâm tình …Thơ của bà để lại không nhiều nhưng đã in đậm dấu ấn trong văn học sử, và tạo lòng ngưỡng mộ vô bờ nơi những khách yêu thơ.

No automatic alt text available.Được gọi là Bà Huyện Thanh Quan, vì cô Hinh lấy chồng người làng Nguyệt Hùng, tên gọi Lưu Ôn, đậu cử nhân đời Vua Minh Mạng . Lúc đầu ông được bổ làm tri huyện Thanh Quan (tỉnh Thái Bình), rồi vì can án nên bị cách chức, sau lại được làm Bát Phẩm Thi Lại Bộ Hình, sau cùng được thăng lên chức Viên Ngoại Lang . Phần bà, nhờ nổi tiếng là “hay chữ “, nên được Vua Minh Mạng vời vào cung và phong cho chức Cung trung giáo tập, để dạy các cung nữ học …Trên đường vào Phú Xuân qua đèo Ngang…bà Huyện đã “tức cảnh sinh tình” và bài thơ ra đời.
Đèo Ngang nằm trên quốc lộ 1A, thuộc dãy Hoành Sơn đoạn chạy ngang ra biển Đông. Đèo dài 6 km, cao khoảng 250 m (750 ft). Phần đất phía Bắc thuộc xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tỉnh . Phần đất phía Nam là thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch tỉnh Quảnh Bình.

Trên Đèo Ngang nhìn ra xa chỉ có núi đá và biển đông. Quảng Bình ở dưới thấp hơn Đèo Ngang. Có người cho rằng bà Huyện làm bài thơ trong chuyến đi từ Quảng Bình ra Hà Tĩnh vì bà “Bước tới ” chứ không có “Bước xuống ” đèo Ngang.

” Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa ”

Lần đầu nữ sĩ “bước tới đèo Ngang”, đứng dưới chân con đèo “đệ nhất hùng quan” này, địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Quảng bình, vào thời điểm “bóng xế tà”, lúc mặt trời đã nằm ngang sườn núi, ánh mặt trời đã “tà”, đã nghiêng, đã chênh chênh. Trời sắp tối. Âm “tà” cũng gợi buồn thấm thía. Câu 2, tả cảnh sắc: cỏ cây, lá, hoa… đá. Hai vế tiểu đối, điệp ngữ “chen”, vần lưng: “đá” – “lá”, vần chân: “tà” – “hoa”, thơ giàu âm điệu, réo rắt như một tiếng lòng, biểu lộ sự ngạc nhiên và xúc động về cảnh sắc hoang vắng nơi Đèo Ngang 200 năm về trước

“Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”.

No automatic alt text available.Cỏ cây, hoa lá phải “chen” với đá mới tồn tại được.Hoa rừng chỉ là hoa dại, hoa sim, hoa mua và cỏ dại. Cảnh vật hoang sơ, hoang dại đến nao lòng. Nữ sĩ sử dụng phép đối và đảo ngữ làm cho câu văn ngắn gọn, mạnh mẽ; nhưng lại thật trong sáng, nhẹ nhàng .
Thể thơ Đường luật có một bố cục chặt chẽ, với số chữ và số câu hạn chế, lại thêm những quy luật niêm và đối phức tạp .Với chữ Hán đã khó, dùng chữ Nôm lại còn khó hơn . Thật hay nhưng thật khó, thế mà điều đó có được nơi thơ của Bà Huyện Thanh Quan.

Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ (chợ ) mấy nhà

Ta có thể thấy điểm nhìn đã thay đổi: Từ trên cao nhìn xuống dưới và nhìn ra xa xa.

Chữ “tiều” vừa để diễn tả một nghề nghiệp (đốn củi), vừa để diễn tả một người (tiều phu), nhưng chỉ có “tiều vài chú”. Hoạt động là “lom khom” vất vả đang gánh củi xuống núi. Một nét vẽ ước lệ trong thơ cổ.

Xét về nghề nghiệp của thời bà Huyện thì có thể kể đến Ngư, Tiều, Canh, Mục. Chữ Ngư và Canh không đối luật bằng trắc với chữ Tiều. Như vậy chỉ còn nghề Mục. Nhưng ở sát bên sông có ai đi chăn nuôi, làm mục đồng. Xét cho cùng ở sát bờ sông chỉ có nghề chài lưới thích hợp nhất. Nữ sĩ rất tinh tế trong cảm nhận!
lac’ đác là mấy nóc nhà chợ bên sông của người miền núi ,thưa thớt.

Sở dĩ nữ sĩ gọi “chợ mấy nhà” để gieo vần mà thôi: “tà” , “hoa” ,
“nhà”. Từ láy ” lom khom, ” lác đác” càng nhấn mạnh cảnh hoang vắng, heo hút, buồn hoang sơ nơi con đèo xa xôi lúc bóng xế tà. Những ý và lời đã được bà dùng thật chính xác để diễn tả,gieo vào lòng người một sự trầm lắng sâu sa …Nhất là về ý, ” ý tại ngôn ngoại” : dùng chữ diễn ý, sao cho ngắn gọn, đầy đủ; nhưng cũng “ý bất thành văn “: lại vẫn như có điều gì đó để gợi thêm tưởng tượng và tâm tình, như “trời chiều bảng lảng ” làm cho người đọc có ấn tượng : không thiếu, không dư . Có thể nói rằng những câu thơ của bà thật đẹp và khó có một chữ thừa :

“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

No automatic alt text available.Âm thanh tiếng chim rừng: chim gia gia (chim đa đa)***, chim quốc quốc (chim Đỗ Quyên )*** gọi bầy lúc hoàng hôn. Điệp âm “con quốc quốc” và “cái gia gia” tạo nên âm hưởng du dương của khúc nhạc rừng, của khúc nhạc lòng người lữ khách. (sẽ có dịp chúng ta mổ xẻ điển tích chim quốc quốc và chim đa đa trong mọt dịp khác nhé)

Ta thấy nữ sĩ lấy cái động (tiếng chim rừng) để làm nổi bật cái tĩnh, cái vắng lặng im lìm trên đèo Ngang trong khoảnh khắc hoàng hôn, đó là nghệ thuật lấy động tả tĩnh trong thi pháp cổ rất tài tình.

Nghe tiếng chim rừng mà “nhớ nước đau lòng”, mà “thương nhà mỏi miệng’. Có nỗi buồn thấm thía vào tận sâu cõi lòng, toả rộng trong không gian từ con đèo tới miền quê thân thương của nữ sĩ.
Tại sao bà Huyện sống trong khung cảnh thanh bình, lại “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc “, “Thương nhà mỏi miệng cái gia gia “? Qua hai câu này, chắc không phải bà Huyện đang diễn tả tâm trạng đất nước của mình mà có lẽ lúc đi qua Đèo Ngang, bà Huyện nghe được tiếng kêu của chim quốc và chim đa đa nên nhớ lại tích xưa. Chữ “quốc’ dùng trong câu thơ thứ năm là để đối với chữ “nước” . Chữ “gia” dùng trong câu thơ thứ sáu là để đối với chữ “nhà”.

Hay Nữ sĩ – Nhớ nước đau lòng đây là những cuộc chiến nồi da xáo thịt của hai nhà Trịnh-Nguyễn, phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài, gây biết bao cảnh thê lương tang tóc cho người dân lành vô tội hơn cả trăm năm !
– Nhớ nước đau lòng đây, cũng là nhớ nước do Nhà Tây Sơn cai quản nói chung, và vùng đất nước của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nói riêng, có một thời gian ngắn ngủi yên bình, nay đã mất.?!
Xin nhớ là Nguyễn Nhạc đã phân chia ranh giới từ Đèo Hải Vân (Thừa Thiên) ra Bắc thuộc về Bắc Bình Vương cai quản, mà Đèo Ngang lại nằm trong địa phận đó. Cho nên, khi Bà Huyện Thanh Quan đến Đèo Ngang, hướng mắt nhìn về phương Nam có di tích Sông Gianh phía xa xa… mà tức cảnh sinh tình “nhớ nước đau lòng” chăng….(source some from Wikilik)

(đọc tiếp phần 2)

Phan Nguyên Luân / ĐGCĐ… thuc hien


P/S:

Theo một số taì liệu xưa, nhiều phần truyền miệng hơn phân tích theo “khoa học” thì ĐIỂN TÍCH CHIM QUỐC QUỐC: Chim cuốc, hay chim quốc quốc còn có tên là Đỗ Quyên hay Đỗ Vũ. Chim có mỏ dài và cong. Lưng chim màu xám, bụng trắng có một vệt đen. Thường sống trong bụi rậm. Mùa hè chim kêu rỉ rả ngày đêm. Có người cho rằng chim cuốc kêu nguyên đêm, sáng ra khan cổ, máu chảy ra khỏi miệng rồi chết.
Chuyện kể vua Đỗ Vũ nước Thục, yêu bà Biết Linh, vợ của một ông tướng dưới quyền. Vì thế bị ông tướng cướp mất ngôi vua. Đỗ Vũ phải trốn vào rừng, thương tiếc một sự nghiệp của thời vàng son, chết hoá thành con chim Đỗ Quyên. Bởi thế mới “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc “. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du hỏi “Ấy hồn Thục đế hay là Đỗ Quyên” là tích này đây. Vì chim cuốc kêu vào mùa hè nên có thể bà Huyện viết bài thơ này vào mùa hè ở Đèo Ngang.
… Dĩ nhiên sẽ có ít nhiều “chông chênh” về cách giải thích của mình, hy hong các bạn có cao kien hoặc tài liệu nào cập nhật tiết thực hơn xin gop ý để chúng ta có một giải đáp toàn thiện hơn… xin cảm ơn! PNL/ĐGCĐ

No automatic alt text available.
This entry was posted in 6- Văn Học, Chốn Văn Chương. Bookmark the permalink.

3 Responses to QUA ĐÈO NGANG… VẦN THƠ TUYỆT TÁC của BÀ HUYỆN THANH QUAN (part 1)

  1. Tiffany says:

    Cám ơn tác giả, bài viết như bài bình luận văn thơ rất hay và giá trị!

    Like

  2. Annaoanh says:

    Cảm ơn người viết bài này.
    Ba Huyện Thanh Quan thật là một người phụ nữ VN ngàn năm danh tiếng lưu trữ lại thế hệ sau.
    Tiếc là giới trẻ ngày nay không được hấp thụ nên van hóa tuyệt vời của thời đại củ mà chúng ta đã trải qua

    Like

  3. Pham Long says:

    Tiếc rằng học sinh học môn văn ở VN hiện nay không được hoặc không có cơ hội để có và đọc được những bài viết như vầy.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s