QUA ĐÈO NGANG… VẦN THƠ TUYỆT TÁC của BÀ HUYỆN THANH QUAN (part 2)

Image may contain: 1 person

QUA ĐÈO NGANG…
THƠ ĐƯỜNG TUYỆT TÁC của BÀ HUYỆN THANH QUAN!!

(part 2)

Làm người, ai cũng nhớ đến sinh quán, quê hương ; nhất là người giàu tình cảm như Nữ sĩ Thanh Quan ,có lẽ bà không làm sao quên được Thăng Long, đất ngàn năm văn vật . Đã biến đâu rồi những cung son điện ngọc, mà chỉ còn trơ lại những cột gãy tường siêu, sân rêu mái đổ. Làm bà phải cất tiếng than :

Tạo Hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương .

Ở đây, cũng cần minh định rõ ràng là Bà Huyện Thanh Quan , cũng như những cựu thần nhà Lê, đã chẳng tiếc gì cái ngai vàng mục nát với chính sự đổ nát của thời Lê mạt Trịnh suy, chả quý gì một vua Lê chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà”, hay một Chúa Trịnh Khải chỉ biết bắt nạt vua Lê mà lại khiếp nhược trước kiêu binh Tam Phủ . Thái độ Nữ sĩ không có tính cách chính trị, chỉ là tâm tình . Trước cảnh hoang tàn của đất Bắc thời nhà Nguyễn, bà đau lòng nhớ tiếc một quá khứ xa xưa, một quá khứ có lẽ chính bà cũng không tường tận lắm và cũng chưa thọ hưởng ân huệ gì, nhưng đó là quá khứ của tiền bối, của gia đình, của quê hương mình, cho nên tình cảm dễ tô màu khả ái .

Lại nói lữ khách là một phụ nữ nên nỗi “nhớ nước”,” “nhớ nhà” cũng là nỗi nhớ chồng con, nhớ làng Nghi Tàm thân thuộc không thể nào kể xiết!

Bà đã đi từ bi kịch cá nhân của mình tới cái nhìn về sự biến thiên đổi dời của thiên nhiên và xã hội, sự đổi dời mà con người không cách chi ngăn giữ, mà chỉ còn lại nơi những tâm hồn nhạy cảm sự tiếc nuối xót xa, xót xa về một quá khứ với những kỷ niệm riêng tư, hạnh phúc gia đình . Nhìn chung, thì để dẫn đến một tâm trạng có rất nhiều nguyên nhân, hà tất chỉ là nỗi lòng người đó !
Đọc thơ của bà, chúng ta thấy có một cái gì thật đoan trang, tao nhã, nhưng thấp thoáng một nỗi buồn . Một tâm tình nhạy cảm trước thiên nhiên bao la

“Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta”.

No automatic alt text available.Bốn chữ “dừng chân đứng lại” thể hiện một nỗi niềm xúc động đến bồn chồn. Một cái nhìn mênh mang: “Trời non nước”; nhìn xa, nhìn gần, nhìn cao, nhìn sâu, nhìn tứ phía… rồi nữ sĩ thấy vô cùng buồn đau, như tan nát cả tâm hồn, chỉ còn lại “một mảnh tình riêng”. Lấy cái bao la, mênh mông, vô hạn của vũ trụ, của “trời non nước” tương phản với cái nhỏ bé của “một mảnh tình riêng”. Nữ sĩ đã hòa mình với thiên nhiên phải có một sự hoà hợp tuyệt đối giữa tâm hồn và ngoại cảnh, giữa tình cảm và lý trí , mới viết được như thế.

Chỉ còn lại “mình ” đối diện với mình “ta với ta” trên đèo Ngang trong buổi chiều tà; không còn là sự gửi gắm, miêu tả, bộc bạch nữa, mà là tác giả “tạc tượng ” nỗi cô đơn của mình vào đất trời, vũ trụ . Một hình tượng độc đáo : kiên vững , đầy nghị lực , dường như không muốn làm phiền lòng, bận tâm người khác, mà chỉ âm thầm chịu đựng một mình . Có phải là vì những ngày xa chồng, xa nhà khi nhận chức Cung trung giáo tập ở kinh thành Huế đã tạo trong bà nỗi buồn cô độc ? hay là vì chồng bà sớm qua đời nên bà thấy lẻ loi và luôn nhớ lại một dĩ vãng không bao giờ trở lại ?

Ngay cả cảnh vật, tuy thật gần gũi để bà gửi gắm tâm tình, nhưng vẫn không chia sẻ được sự cô quạnh của bà “cảnh đấy, người đây, luống đoạn trường ”
Bà đã dùng những thi điệu thật uyển chuyển, nên thơ dù tả cảnh và theo thể thơ Đường, nhưng vẫn không bị gò bó . Trong thơ như có nhạc, và nhạc đó làm nao lòng người. Như chứa đầy tâm sự mà không tìm được người san sẻ . Một tâm trạng cô đơn, cô độc:

“Kẻ chốn chương đài, người lữ thứ
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ”

Khác hẳn với Nguyễn Khuyến, ngay khi cô đơn như sư cụ chùa Đọi thì còn có khói mây :

“Sư cụ nằm chung với khói mây”

Hoặc Tản Đà thì vẫn còn có mặt trăng :
“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi .”

Hay như Hồ xuân Hương, lúc buồn còn có “non” và “nước” :
“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non ”

Còn Bà Huyện Thanh Quan thì một tâm trạng như cô đơn tuyệt đối, thể hiện rõ nét
“Một mảnh tình riêng ta với ta ”

Bà ôm một mối tơ tình, mà chỉ có một mình Bà biết một mình Bà hay mà thôi !

No automatic alt text available.“Qua Đèo Ngang” là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật tuyệt bút. Thế giới thiên nhiên kỳ thú của Đèo Ngang dần hiện qua dòng thơ với cảnh sắc hữu tình thấm đượm nỗi buồn man mác. Giọng thơ du dương, réo rắt. Phức đối và đảo ngữ có giá trị thẩm mỹ trong nét vẽ tạo hình đầy khám phá. Cảm hứng thiên nhiên trữ tình chan hoà với tình yêu quê hương đất nước đậm đà qua một hồn thơ trang nhã. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” là tiếng nói của nữ sĩ , mượn cảnh nói … tình, cũng là khúc tâm tình của muôn triệu người, nó là bài thơ một thời và mãi mãi – bài thơ non nước
Thể thơ Đường Luật của Việt Nam trước kia thường mắc phải hai tật : nếu nghiêng về chữ Hán thì nặng nề, cổ kính, có lúc tối nghĩa vì những điển cố, nghĩa chữ ; nếu nghiêng về chữ Nôm thì quê kệch, chất phác, đôi khi trúc trắc, khó hiểu vì những tiếng không phổ thông . May mắn thay, tới đầu thời nhà Nguyễn, chúng ta có hai nữ sĩ kiệt xuất là Hồ xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan, nên hai tật đó đã được vượt qua. Nói như cố giáo sư Phạm thế Ngũ “Thơ Hồ xuân Hương thiên về Nôm mà bóng bảy, duyên dáng, thơ Bà Huyện Thanh Quan thiên về Hán mà thanh thoát , nhẹ nhàng.Hồ xuân Hương đại biểu cho cái tinh thần trào phúng bình dân vươn lên thể hiện trong một hình thức bác học. Thanh Quan đại biểu cho cái tinh thần tao nhã nho sĩ kết tinh lại cùng với tinh túy của bài Đường thi trong một ngôn ngữ Hán Việt đã hoàn toàn Việt hoá “.

Để nói riêng về Bà Huyện Thanh Quan, cố giáo sư đã không tiếc lời khen ngợi, và có lẽ chúng ta cũng đồng ý với ông rằng :”Thơ Đường trước bà người ta đã làm vô số, sau bà người ta cũng còn làm vô số . Nhưng trước cũng như sau, có lẽ không ai vượt được Nữ Sĩ Thanh Quan “.
(source some from Wikilik)

Phan Nguyên Luân / ĐGCĐ… thực hiên

________________________________________

P/S:

SƠ LƯỢC QUÊ HƯƠNG BÀ HUYỆN THANH QUAN:

Cho tới nay, người ta không rõ năm sinh và năm mất của bà. Chỉ biết cha của bà là học trò của cụ Phạm quý Thích, cụ là một tiến sĩ đời nhà Lê và là bạn thân của thi hào Nguyễn Du . Quê hương bà là làng Nghi Tàm, ở ven Hồ Tây (Hà Nội) . Nơi này vào thế kỷ XII có công chúa Từ Hoa, con vua Thần Tông nhà Lý, người đầy lòng nhân ái ; đã từ bỏ cung vua để lập trại dạy cung nữ trồng dâu nuôi tằm, hoà mình với đời sống của dân ; sau lại đem tất cả những gì mình có để làm công quả, xây nên chùa Sen Vàng (Kim Liên ). Đây cũng là nơi mà sau này có nhiều dấu ấn của Vua Lê Chúa Trịnh : Chúa Trịnh Giang mở bến tắm, chúa Trịnh Sâm mở các hành cung . Gần đó là xóm Bảo Khánh, chỗ bà chúa Liễu Hạnh dong thuyền ngâm thơ “trăng tròn soi một bóng tiên thôi “, nơi đẹp đến nỗi “đất trời lộn sắc “: chả biết đâu là nước, đâu là mây. Phải hiểu địa danh và lịch sử của Nghi Tàm mới có thể cảm được thi tài và tâm hồn nhạy cảm, đầy nhân ái của Bà Huyện Thanh Quan , Nữ sĩ của đất “ngàn năm văn vật” .

No automatic alt text available.
This entry was posted in 6- Văn Học, Chốn Văn Chương. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s