MỘT NƠI XA LẮM QUÊ NHÀ, NHƯNG LẠI CẢM GIÁC GẦN LẮM… QUÊ HƯƠNG !!

Tiếng phone reo, tôi lòm khòm bò dậy… Bậc ngọn đèn “le lói” nửa mờ nửa tỏ, xem đồng hồ mấy giờ rồi mà “tên nào” ác nhơn ác đức gọi mình vào lúc “thiên thu quay về” qua giấc mơ này (?). Uhm! Mới có bốn giờ sáng (4:00am), nhắc phone lên, tôi hỏi với giọng còn ngáy ngủ: “ai đó”?

Đầu dây bên kia, một giọng nói quen thuộc, vui vẻ và hân hoan như mới trúng được Loto:

“Hey, Luân! Chị Tám (ù) của em nè! Ở bên đó mấy giờ rồi mà giọng còn nhừa nhựa vậy? Cuối tháng này chị và cháu được Visa du lịch qua Mỹ. Như vậy chị em mình gặp nhau nghen! Mấy hôm nay cả ngày lẫn đêm không có ngủ được, cứ mong cho thời gian qua mau để qua Mỹ thăm bà con tụi mình…”

Tôi vẫn giữ nguyên giọng nói ủ ê:

“Chị Tám hả? Có đi Mỹ hay đi lên thiên cung thì cũng phải chờ đến sáng mới gọi chứ! Hôm qua ở lại tòa soạn đến 2:30am (sáng), em mới vừa đặt cái lưng xuống giường năm ba phút là chị gọi rồi. Ngủ chưa được nửa giấc thì chị phá em rồi. Thiệt tình chị Tám này, không thương thằng em tí nào…”

Chị Tám vẫn hớn hở, mừng vui:

“Đúng là thằng em dỏm, chị mà qua Mỹ được là mày biết tay. Ừa, mà nói thật với em đó, chị mừng lắm! Không phải ai cũng có cơ hội du lịch qua Mỹ đâu. Mỗi lần thấy mấy người hàng xóm có ai đó đi Mỹ, là chị Tám của em háo hức lắm. Lần này ước mơ thành sự thật! Chị em và bà con mình được trùng phùng trên xứ đẹp nhất của trần gian này. Thôi để em ngủ, mai mốt chị qua tha hồ chị em mình tâm sự. Bây giờ em ngủ được bao nhiêu cứ ngủ, chứ khi chị đến Mỹ, thì phải thức với chị suốt đêm nói chuyện đó nghe. Àh, ở Cali lạnh chưa? Mùa Thu ở đó thế nào? chắc đẹp lắm phải không?”..

Tôi ứ ừ cho qua loa, phone để bên tai nhưng mắt thì nhắm nghiền, màn nhỉ có tiếp thu được tiếng nào đâu, chỉ nghe giọng của chị Tám (ù) lãi nhãi hết chuyện này đến chuyện khác, nói không dứt, nói như không cần người nghe. Tôi cố gắng lấy hết sức để lắng nghe, nhưng cũng chỉ nghe được có một vài câu…Cali lạnh chưa? Mùa Thu đẹp đẽ gì gì đó!!!! tôi đứng dậy đem điên thoại vào trong restroom, mở nước rửa mặt cho tỉnh ngủ, chị Tám nghe tiếng nước đoán già đoán non: – “Ủa, Cali mới đây mà vào mùa mưa rồi hả, nghe tiếng nước chắc ở ngoài đang bị bão hả?”…

Rửa mặt xong, tỉnh hơn một tí, khỏe hơn một tí, tôi mới trả lời chị Tám:

“Bão gì mà bão, mưa gì mà mưa? Nóng thí bà tổ đây nè. Em đang rửa mặt. Ở Cali mới có hơn 4 giờ sáng thôi. Ừa, cuối tháng này chắc trời cũng hết nóng rồi, vào Thu khí hậu dễ chịu và mát dịu chứ không có lạnh đâu. Ở đây cũng có quần áo, đủ thứ đồ ấm, đồ lạnh bán đầy dãy. Qua đây em dẫn chị đi mua, đừng có đem thứ gì hết nghe, nặng nề, khiêng vác mất công, nhất là đồ ăn thì tuyệt đối càng không nên đem qua! Hải quan Mỹ không cho mang đồ ăn qua đâu, vả lại đem qua cũng chẳng có ai ăn, vì ai cũng sợ bị đồ ăn không vệ sinh, có virus, vi khuẩn gì đó. Nói chung, chị cứ mang cái “mạng” không là được rồi…”

Giọng chị ngạc nhiên: – “Ở Mỹ nghe nói tự do tuyệt đối mà, sao lại cấm không cho đem đồ ăn vào? Không lẽ chỉ là tin đồn chứ không có tự do thật?”

Tôi nghe chị nói mà nhịn cười không được, nên phá lên cười to:

“Tự do là tự do mắc mớ gì liên quan đến chuyện đồ ăn?  nhưng chính quyền Mỹ muốn bảo vệ sức khỏe của người dân Hoa Kỳ. Thiệt là mệt chí Tám (ú ù) quá! Ở Mỹ không thiếu thứ gì, nên đem đồ ăn qua làm gì? Chị qua đây rồi sẽ biết… Hầu như thứ gì cũng có. Còn chuyện tự do khi nào chị qua đây rồi em nói cho chị nghe, nghe xong là chị bớt ù, từ Tám xuống còn Bảy, còn Sáu không chừng… chứ ù mấy mươi năm chưa chán sao? Hhahah!”

Nghe tôi chọc chị Ù, chị ấm ức nói với giọng cà lâm vui vui:

“Mày đó nghe Luân! Chị Tám qua Mỹ rồi mày biết tay. Thôi em ngủ lại đi, nhớ khi nào đến phi trường thì đón chị với mấy đứa nhỏ nghe. Chị muốn gặp tất cả tụi em tại phi trường. Hôm đó thiếu đứa nào, chị Tám sẽ giận đứa đó!”

Tôi định cúp phone sau tiếng nói Bye, thì chị nói vọng lại:

“hey, Luân! Hôm qua chị lên mạng xem, có một bài viết không để tên tác giả, họ viết chửi ông nhạc sĩ Phạm Duy quá trời luôn. Thấy tội nghiệp ổng quá đi thôi! dù sao ổng cũng ra người thiên cổ, và cống hiến cả đời âm nhạc cho mọi người. Chị thấy ai rồi cũng phải “ra đi”, ai cũng có lý lẽ và quan niệm sống riêng, mắc mớ gì chửi người ta. Vả lại, mấy ông nhạc sĩ Quèn ở đây, viết nhạc vừa dở, vừa dzô dziên, mấy chục năm nay có ông nhạc sĩ văn công Việt cộng viết đựơc bài hát nào ra hồn không? Cứ tự xưng tụng với nhau, có được chút địa vị là làm trời làm đất, chưa kể làm dơ, làm bẩn âm nhạc Việt Nam của mình. Chị Tám ở đây, sao chị thấy mấy thằng đó là chị phát ghét rồi. Lúc còn hiện tiền, thấy nhạc sĩ Phạm Duy về nước được nhiều nơi mời tổ chức nhạc, và thuyết trình thì mấy ông nhạc sĩ Quèn này ganh tị chứ có gì đâu(?) … cái kiểu ganh tị rẻ tiền như mấy nội nhạc sĩ văn công hạng I-Cà-Rết (y), nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, nhạc sĩ Tân Huyền, kể cả mấy ông thần nước mặn nhà văn (nô) Chu Lai, hay tiến sĩ “mua bằng” Nguyễn Đức Trung… Thôi để khi nào chị qua, mình nói cho nghe thêm về vấn đề thủm thủm của mấy ông nhạc sĩ Việt cộng này…”

Tôi hỏi gặn lại: – “Chị nói báo nào viết, thôi chị gởi Email cho em bài đó nghe?…”

Chị Tám cười trong phone, nói với một giọng hơi chảnh chảnh:

“hà hà!!! Chị Tám gởi email bài này, thì nhớ khi chị qua Mỹ chở chị đi tham quan phố “lí lồ sì-gòn” nghe! Chị em mình chơi tình “trao đổi tù binh” chịu không?  Thôi chị bye nghe! Nói chứ hồi nãy trước khi gọi cho em, chị đã gởi email bài viết đó rồi… bye Lucky !!!”

Bây giờ mới thật sự không còn nghe tiếng của chị Tám trên phone, tôi xuống bếp bắt ấm nước, đợi cho nước xôi, tôi mở Laptop check email, Uhm… đúng là chị Tám chịu chơi, tưởng chị nói cho có lệ, không ngờ chị gởi email cho mình thiệt. Tôi bấm vào và download xuống Microsoft Word. Bài viết chị gởi qua dạng của Unicode với tựa đề:

Không Thể Tung Hô

Có thể nói, một trong những niềm tự hào, tự tôn của dân tộc Việt Nam là triết lý “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Tuy nhiên, “không đánh kẻ chạy lại” cần được hiểu thêm rằng, kẻ chạy lại là ai, và “không đánh” có nhất thiết đồng nghĩa với việc xem người ấy là thần tượng, là nhân vật tiêu biểu để đón rước trọng thể…?
Tôi muốn nói đến trường hợp của nhạc sĩ Phạm Duy, người mới được xưng tụng sau đêm nhạc “Ngày trở về” (diễn ra tại Nhà hát Hoà Bình, TP.HCM). Một người bạn, nhà văn Chu Lai đã tỏ ra tâm đắc với ý tưởng này và cho biết, Tạp chí “Thế giới mới” số mới nhất có đăng một bài viết, với nội dung gói gọn: “Một người từng bỏ kháng chiến theo thực dân Pháp, khi Pháp rút lại theo Ngô Đình Diệm và khi nguỵ quyền sụp đổ lại chạy qua Mỹ. Và tại đó, đã viết hàng loạt bài kêu gọi chống Cộng, với giọng điệu ‘sặc mùi’ hiếu chiến. Nay, thấy Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, lại xin trở về! Hà cớ gì phải tung hô, xưng tụng đến như thế!”.
Đất nước đang đổi mới, chúng ta chấp nhận việc khép lại quá khứ để xây dựng tương lai, nhưng điều ấy không đồng nghĩa với việc bỏ quên tất cả, từ những hy sinh gian khổù đến những bài học máu xương… Chúng ta cũng không quên tổ tiên ta luôn tỏ rõ nghĩa khí, quyết không sợ xâm lăng và cũng không trù dập kẻ thất trận. Tù binh giặc còn được cấp lương, thuyền để chúng “ra đến bể chưa thôi trống ngực” hay “về đến nhà còn đổ mồ hôi” (Cáo bình Ngô). Nhưng cái khái niệm ân nghĩa bốn bể ấy cũng có những nguyên tắc và với trường hợp của Phạm Duy, chúng ta lại càng cần phải hiểu cho rõ ngọn nguồn.
Nửa thế kỷ trước, khi còn là một “chú nhóc” tại trường Thiếu sinh quân chuẩn bị qua Trung Quốc học tập, ở Việt Bắc, tôi đã cùng bè bạn trong đơn vị hát những ca khúc rất hay của Phạm Duy, khi ấy đang là một trong những cán bộ văn hoá của chính quyền cách mạng. Tôi đã thuộc lòng câu hát “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…” và sau này, lớn lên một chút mới hiểu ra rằng, cái tứ ấy, có gì giống với luận điểm của Nguyễn Văn Vĩnh (truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, mà tiếng ta còn thì nước ta còn – cách nói ấy là để biện minh cho việc ôm chân giặc xâm lược của Nguyễn Văn Vĩnh và bè lũ bán nước). Phạm Duy có những tác phẩm làm say đắm lòng người, như “Thiên Thai”, “Trương Chi”, “Nhạc tuổi xanh”, “Quê nhà em”… Rồi sau đó là các bài như “Thuyền viễn xứ”, “Bà mẹ Gio Linh”, “Cây đàn bỏ quên”, “Nghìn trùng xa cách”… Khai thác chất liệu dân ca đồng bằng Bắc Bộ, khó có ai qua mắt Phạm Duy. Bài “Ru con”, Phạm Duy viết ở Việt Bắc có câu “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời giặc Pháp có thương dân mình”, chuyển từ điệu “thứ” qua “trưởng” thật đắt, còn nhịp ba trong “Quê nhà em” lại rất hay, dí dỏm và tố cáo giặc đốt nhà, phá đường…
Nhưng, ngay trong thời kỳ ấy, chất lãng mạn tiểu tư sản, sợ khổ, sợ chết đã bộc lộ qua sáng tác của Phạm Duy. Khi ấy, dù còn bé, song tôi đã biết bài “Bà mẹ Giao Linh” bị cấm, bởi có những câu mà khi hát lên, liệu còn ai, còn bà mẹ nào dám để con đi bộ đội. Và chất đa tình cố hữu, ta thường thấy ở giới nghệ sĩ, ở Phạm Duy được xem là nhược điểm. Và cái phải đến đã đến, Phạm Duy “dinh tê”, bỏ kháng chiến vào thành, lập ra ban nhạc “Đêm màu hồng” với Thái Thanh, Thái Hằng, có cả Phạm Đình Chương, Duy Quang… Và từ đó trở thành tên tuổi hàng đầu trong đám văn nghệ sĩ chống Cộng.
“Đỉnh cao” sự nghiệp chống Cộng của Phạm Duy là bài “Mùa thu chết”. Ở đó, tác giả đã công khai tư tưởng chống Cộng của mình. Ông ta đã từ bỏ tình yêu với Tổ quốc bằng một bút pháp thật sâu cay, đểu giả và ít ai quên cái mùa thu trong ca khúc ấy chính là Cách mạng mùa Thu, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Khi đất nước bị chia cắt, Phạm Duy đã vào Nam theo chính quyền Ngô Đình Diệm, lần lượt đi sâu vào con đường chống Cộng và lên đến chức Bộ trưởng Văn hoá. Nhưng, sự nghiệp âm nhạc của ông ta vẫn càng lún vào “vũng bùn” phản quốc. Bài “Ru con” đã thay câu cuối cùng bằng “Mấy đời Cộng sản biết thương dân mình”. “Nhạc tuổi xanh” đã bị biến chất để đi ngược lại điều đã ấp ủ của cả một thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam đang lên đường đổi cả sinh mạng lấy tự do, độc lập. Và để khẳng định mình, Phạm Duy liên tiếp cho ra đời những tác phẩm vừa chống Cộng, vừa bệnh hoạn.
Ngày miền Nam mới giải phóng, tôi có gặp TS. Nguyễn Văn Trung, nguyên giảng viên Đại học Sài Gòn. Trước khi di tản đi Mỹ, ông Trung bất đắc chí đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện, trong đó có lời miệt thị một nhạc sĩ có tài là Phạm Duy mà lại đi viết cả những bài hát để ủng hộ sự loạn luân!? Chính TS. Trung đã qua Mỹ dạy học, còn nhạc sĩ Phạm Duy di tản sang Mỹ để trốn chạy trước sự trở về của những người đã từng chung một chiến hào với ông ta. Tại Mỹ, Phạm Duy làm nhiều người (trong đó có tôi) sôi sục căm thù, khi viết bài kêu gọi các nam thanh, nữ tú đất Việt hãy xông lên, lấp sông bến Hải, giải phóng Việt Nam khỏi tay Cộng sản… Và bây giờ, khi đã sắp đến lúc nhắm mắt xuôi tay, ông ta muốn trở về trong sự đón tiếp nồng hậu của những người từng bị ông chà đạp về tinh thần!
Tôi đọc Nam Cao và tâm đắc với nhận xét: “Những thằng chuyên ác chỉ có thể hết làm việc ác nếu chúng không còn đủ sức để làm ác”. Bây giờ, với Phạm Duy cũng là như vậy. Một Việt Nam đang vươn lên, môi trường này đang sống động và có vị thế mới đã có thể làm mềm lòng mọi kẻ vốn kỳ thị với dân tộc này, tất nhiên đủ sức làm “kẻ chạy đi” mong được trở về, song, như đã nói trên, không thể có sự trở về như một người hùng. Chia sẻ điều này, nhạc sĩ Tân Huyền cho hay, đó là điều kỳ lạ, hiếm thấy, tuy ông bảo: “Bây giờ, tư nhân cũng có thể làm ra một trang web để tôn vinh mình, nói gì…”. Và tôi hiểu, tác giả “Cỏ non thành cổ” làm sao chấp nhận sự trở về trong thứ vinh hoa kiểu ấy, nó làm cho sự hy sinh của những đồng đội, những nấm mồ liệt sĩ kia có thêm những nỗi đau thế thái.
Có một lần, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn trả lời báo chí, ông khẳng định, không bao giờ đánh giá một nhạc sĩ dám dâng hiến tuổi trẻ trong đội ngũ những người chiến sĩ, ngang bằng một tác giả không dám lâm trận và chỉ ngồi trong lòng địch để than thân trách phận, hay ngợi ca một hạ trắng, thu vàng, chứ đừng nói đến một tác giả đã nhảy vào lòng địch để chống Cộng, rồi sau này, khi hết “đát” lại nói lời xí xoá. Tôi cam đoan không một nhạc sĩ cách mạng Việt Nam nào không vui mừng trước nghĩa cử đầy nhân ái của đất nước, song tất cả họ đều chung một suy nghĩ, rằng người trở về đâu phải ai cũng như ai. Lời nói ấy của người nhạc sĩ-chiến sĩ, đã giúp tôi có thêm nghị lực, để nghĩ, để nói và để thể hiện chính kiến, để không bị hoà tan trong những đợt sóng vàng vọt đâu đây. (source from báo Đầu Tư)

Đọc xong bài viết của ông tác giả nào mà không thấy chị Tám để tên. Chỉ biết có một vài nhân vật như nhà văn (nô) Chu Lai, Tiến Sĩ  (mua bằng) Nguyễn Văn Trung, nhạc sĩ văn công (quèn) Tân Huyền và nhạc sĩ Việt cộng Nguyễn Đức Toàn thả hết “bầu tâm sự” bằng những lời “đấu tố” nhạc sĩ Phạm Duy. Nói cho cùng, những nhân vật trên “đấu tố” nhạc sĩ Phạm Duy cũng đúng thôi. Vì lòng ấm ức, ganh tị của mấy ông như chị Tám nói không sai, cả cuộc đời theo đảng, theo bác, theo cách mạng chống Mỹ cứu nước, giết “ngụy” để xâm lăng miền Nam, mà nay chẳng ai đối hoài công cán gì, nên khi nhạc sĩ Phạm Duy về nước được nghênh đón thì máu trong người hắt mùi “tiết canh” phải lên đỉnh đầu là chuyện thường tình. Chỉ thương cho những nhân vật trên, đến nay vẫn chưa thức tỉnh một lần để nhận chân tướng của đảng lừa mình, lừa cả dân tộc… Ngày xưa chống Mỹ cứu nước, ngày nay “lạy” Mỹ về cứu nước. Ngày xưa quyết tâm “giết” Ngụy xâm lăng miền Nam, ngày nay mời “Ngụy” gởi tiền về giúp Việt Nam... buồn cười nhỉ !!

Uhm, nước xôi… chế nước vào phin coffee, bước lại cửa ra vào, mở toang…. Gió đầu Thu chờ sẵn lùa nhẹ vào nhà, cảm giác thật dễ chịu!!! Xa xa chút ánh nắng buổi hừng đông của ông mặt trời vừa thức giấc soi rọi về thành phố… Thêm một ngày mới về vội, một ngày ở nơi xa lắm quê nhà nhưng cảm giác gần lắm nơi quê hương, một cảm giác yên bình… đang đi nhẹ vào đời sống. Bỗng nhiên thích nghe lại giọng nói mộc mạc nơi Tuy Hòa, Phú Yên của chị Tám: “nhớ chở chị đi khắp phố Lí-Lồ-Sì-Gòn”…

Vâng! Lí-Lồ Sì-Gòn (Little Saigon) một địa danh nhỏ bé nhưng lắm tình người, lắm tình đồng hương mà tôi đã trú ngụ nhiều năm, và đến nay…vẫn thích tiếp tục mãi!!!

Nắng bắt lên cao, chiếu qua mái ngói nhẹ rơi xuống thềm trước nhà tạo thành những giọt nắng lung linh vũ múa trước mặt, làm tôi liên tưởng đến ca khúc Nắng Thủy Tinh, một cái tên thật dễ thương, hay hay của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, rồi thích hát nho nhỏ như tự tặng mình một món quà thanh bình của buổi sớm mai… nơi này!!

  • Màu nắng hay là màu màu mắt em
  • Mùa Thu mưa bay cho tay mềm
  • Chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm
  • Rồi có hôm nào mây bay lên (?)…

| ĐỘI MŨ NGƯỢC |… thực hiện

 

 

This entry was posted in 6- Văn Học, Bút Ký, Chốn Văn Chương, Tạp Ghi. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s