BÂNG KHUÂNG… NGÀY CUỐI TUẦN !!

Hôm nay thứ Ba mà cứ tưởng đã cuối tuần. Một tuần chỉ được “nằm im” một ngày, nhưng thật sự khi mình im thì thiên hạ lại ồn, , cho nên chẳng có khi nào được nằm im. Tôi đang tập làm người “tịnh” trong khi tại Little Saigon thì quá “động”. Thôi kệ, tôi cứ thư thái, thảnh thơi, thong thả… “mặc tôi”, ra cái vườn nhỏ nhỏ bên hông cái mobile home cũ kỷ tà tà nhổ cỏ, quét lá, tưới cây, thế mà vui! Chẳng biết vui ở chỗ nào (?), nhưng thấy thoải mái vô cùng. Bây giờ mới cảm nhận được thú làm vườn, ươm cây, trồng hoa  của ông Ba (daddy). Năm nay ông Ba đã hơn “tám bó” vẫn khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn, nhiều lần về thăm ngồi vào bàn cơm chiều “ăn đua”, lần nào cũng thua xa. Tôi mới có “bốn bó” như vậy là thua ông Ba gấp đôi, có khi thấy ba cuốc đất sau vườn, cũng bắt chướt làm… cuốc 4, 5 cuốc là “oải” ngay.  Thấy tôi xìu xìu, ển ển nên bị ông Ba phán cho một câu: “tụi mày thanh niên trai tráng mà yếu ợt, làm biếng tập thể dục, vận động tay chân, ăn rồi cứ ở trong văn phòng, trong  nhà tù túm, hèn chi dzỏm òm. Cứ đà này, thế hệ tụi con sẽ không thọ được đến 70 chứ đừng nói đến tám chục thêm lẻ như Ba tụi mày”.

Uhm, nghe ông Ba nói mà phát sợ, phát rét. Ai cũng muốn sống dai, sống lâu, sống khỏe để được trường thọ, nhưng biết làm sao? Mỗi thế hệ sống mỗi khác, sống theo xã hội, theo nơi chốn, hay nói đúng hơn là theo “thời đại”. Thời đại văn minh nó khác, khác lắm ông Ba của con ơi! Mình đang “ăn nhờ ở đậu” nơi khoa học nhất, nơi tiến bộ nhất loài người này, mỗi ngày phải chạy đua với thời gian muốn hụt hơi. Chạy theo để làm gì (?), Chắc ai cũng biết rồi, chạy theo để làm cho hết công việc, chạy theo để muốn làm công việc cho xong, và chạy theo để… kiếm cơm, đơn giản vậy thôi! Đố ông nào, bà nào ở tuổi thanh xuân nơi này mà “tà tà” được, nếu thích tà tà thì thế nào cũng thành… “tàn tàn”!  Bao nhiêu đó cũng đủ hụt  hơi rồi, còn  đâu thời gian cho bản thân chứ đừng nói chi tập thể dục, làm vườn tượt, trồng cây, chăm hoa, tưới cỏ… Mấy ông nhà giàu thì trả tiền mướn người Mễ làm vườn, làm cỏ. Người không giàu thì để cỏ mọc um tùm, chờ khi nào cỏ lấp lối đi thì mới bỏ chút thời gian ra sức “bức cỏ”. Bởi vậy mỗi khi đi qua thành phố, khu vực “sang sang” mà thấy một cái nhà nào đó để cỏ mọc “mất trật tự” là biết “mít” ta chứ không ai xa lạ, thiếu mắm thiếu muối gỏ cửa mượn là đúng ngay “phe ta” thôi…

Đúng là nhắc tiền nhắc bạc như đang nhắc đến ông Ba thì “giàu to” rồi. Đang tưới nước, thì ông Ba gọi. Đầu dây bên kia giọng ông Ba buồn buồn: “Luân, con biết tin Học giả Phạm Công Thiện đã qua đời chưa?  Đây là ông bạn già của Ba. Ông “ra đi” sớm quá! Mới có 71 thôi. Học giả Phạm Công Thiện qua đời sẽ là một sự mất mác ít nhiều cho nền văn học Việt Nam. Thế hệ của Ba mỗi năm “rớt” vài người, họ đi sớm quá, chưa chuẩn bị gì nhiều cho thế hệ nối tiếp nơi hải ngoại nhất là về tinh thần, về văn chương văn học Việt. Ba không biết rồi năm ba năm nữa, lớp của Ba và mấy chú “đi hết”, lớp trẻ sau này nối tiếp được bao nhiêu. Chứ chúng ta không trông mong gì văn hóa văn học văn chương trong nước. Họ học một thứ, và chỉ học một chiều, làm sao mà phát triển được tư tưởng để bắt kịp văn minh hiện tại?”.

Tôi cầm phone im lặng lắng nghe chẳng có ý kiến gì cả, vã lại biết góp ý như thế nào trong khi vốn chữ nghĩa văn học của mình quá ư là giới hạn, mà lớp cùng thời của tụi tôi qua bên này cũng chẳng hơn gì bao nhiêu. Thế hệ tụi tôi cấm đầu cấm cổ “mài mực” trong đại học ở Mỹ, mong sao “bỏ túi” được mãnh bằng để kiếm job là “mừng húm” rồi, còn đâu thời giờ và tâm trí nghĩ đến chuyện khác. Những việc trọng đại như vậy chắc không đến phiên mình, mà nếu mình có “nhào đầu” vô không chừng làm hư chuyện thêm chứ đừng nói phát triển tiếng Việt, văn học Việt.  Nghĩ vậy thôi chứ vẫn có những người có tấm lòng, học cao, chữ nghĩa tốt, họ ôm ấp, họ miệt mài nghiên cứu để nhập cuộc gìn giữ và phát triển văn học Việt nơi hải ngoại. Nói như nhà thơ, nhà báo, nhà văn Viên Linh-Nguyễn Thanh Nam “Văn học, văn chương, văn hóa miền Nam là của Việt Nam”. Vậy ông thi sĩ này đã có sự khẳng định tuyệt đối, chỉ có “dân tộc” miền Nam trước 1975 và những con người miền Nam ra hải ngoại mới ưu tư, mới quý mến, mới hòai niệm, mới gìn giữ và phát triển văn học  văn chương Lạc Việt,  vậy còn “dân tộc” miền Bắc thì sao? Không thấy ông nhận định hay nhận xét gì về vấn đề này. Nhưng khi nghe ông nói như vậy thì mọi người Việt tị nạn cũng đủ hiểu ông muốn đưa ra thông điệp như thế nào rồi.

Không thấy tôi trả lời, ông Ba tưởng đâu điện thoại của tôi hay của Ba có vấn đề, ông Ba nói to hơn: “Con còn đó không? Ah, Ba sẽ gởi lời phân ưu, chia buồn đến Học Giả Phạm Công Thiện, con nhờ tòa soạn đăng giùm nghe. Thôi bây giờ Ba bye, để đưa má tụi mày đi hội già tập thể dục.”.

Ông Ba nói bye xong cúp máy, nghe Ba nhắc  làm tôi nhớ ông Học giả Phạm Công Thiên qua đời cũng lâu rồi mà, cách đây hơn một tuần tờ Việt Báo thấy có đăng tin phân ưu ông học giả rồi. Chắc ông Ba ở Los Angeles không có theo dõi tin tức. Uhm, mà ai đăng, báo đăng, đài nói là chuyện của họ, còn ông Học giả này là bạn của ông Ba, thì ông Ba chia buồn, phân ưu, thế thôi!

Phải công nhận thế hệ trước lúc nào cũng “có trước có sau”. Họ sống rất tình nghĩa, rất nhân bản. Mỗi lần có người “ra đi” thì bạn già của họ đau đáu một nỗi lòng để chia buồn, tiếc thương sự mất mác, vì mỗi “bạn già” ra đi ai cũng mang một hoài niệm và mang cả tư tưởng, tấm lòng nặng với núi sông đi theo. Như ông Học giả Phạm Công Thiện này đây, cả đời với sách vở, với chữ nghĩa. Sách ông xuất bản chồng lên nhau chất cao hơn chiều cao của chính ông. Thời đó ông viết như một dòng chảy xiếc không ngừng nghỉ. Những tư tưởng sâu xa, những ý niệm trân trọng với triết lý sống nhân bản làm người. Chỉ nghe tiểu sử của ông thôi cũng đã nghiêng mình kính phục. Thuở thiếu thời, khoảng 15 tuổi thôi đã thông thạo một lần 5 ngôn ngữ như Anh, Pháp, Tàu, Tây Ban Nha, Nhật. Điều đáng bái phục là tự ở nhà học một mình, tự nghiên cứu một mình, đây không gọi thần đồng mới lạ chuyện lạ. 16 tuổi đã viết cuốn tự điển “Anh ngữ tinh âm” và sau đó làm giáo sư cho một số trường tại Saigòn lúc bấy giờ. Và sau này ông sang định cư ở Pháp quốc, tại đây ông dạy trong viện đại học về khoa Triết học.  và cũng có lần ông tuyên bố một câu xanh dzờn: “Cả đời ông chỉ phục có hai người, thứ nhất là Đức Phật, thứ hai là đại văn hào Ernest Hemingway”.

Có nhiều thắc mắc của khá nhiều độc giả và học sinh cũng như trong giới văn học nghệ thuật hỏi “điều gì để ông từ một con chiên ngoan đạo Thiên Chúa Giáo đổi sang tín đồ Phật Giáo và quy y ở chùa Hải Đức tại Nha Trang”, và từ đó ông tu học trở thành Thiền Sư”… Với tôi thắc mắc làm gì, mỗi người có quan niệm và ý niệm sống khác nhau. Hôm nay là “baby” ngày mai thành người lớn, ngày xưa theo đạo ngày, hôm sau theo đạo khác. Vì mỗi thời đại mỗi khác, thời gian làm cho con người trưởng thành, biết nhận xét và nhận định để chọn cho mình lý tưởng nào thích hợp với đời sống hiện hữu, từ đó họ “bắt chụp” nó để định hướng cho cuộc đời. Với tôi, tôi chỉ biết một người cả cuộc đời cống hiến sự nghiệp văn học cho dân tộc Việt như học giả Phạm Công Thiện chắc cũng không nhiều, nên ông ra đi đúng là một sự mất mác lớn cho việc gìn giữ và phát triển văn hóa Việt nơi hải ngoại.

Người xưa là thế! Tình bạn già của người xưa là thế! Còn bây giờ sao nhỉ? Lâu lâu đi uống coffee tán ngẫu nghe có người “mãn phần” vì bệnh này, hay vì tai nạn nọ, họ chỉ nói phỡn phơ một câu: “số thằng này mạc rịp thiệt! Nhậu quá chết chớ gì? Chơi qua chết chớ gì? Ham làm quá chết chớ gì? Ăn quá chết chớ gì?”… hoặc nhiều lắm là nghe: “tôi nghiệp, còn trẻ mà chết”… rồi xong, rồi quên, và cứ thế dòng người hiện tại vẫn tiếp nối sống trước những cái chết dững dưng, cuộc sống sao mà ỡm ờ quá tình người… Nghĩ đến vấn đề này tự nhiên chiêm nghiệm lại đời sống nơi tha phương này thật nhạt nhẽo, nhạt như búng ốc. Bởi vậy, “thánh thi điên” Bùi Giang sau năm 1975 ông thất chí, chán cảnh sống dưới màu đen đủi của xhcn, ông lê lếch khắp nẽo đường, khắp phố phường mặc chuyện sống, mặc chuyện chết, ông thờ ơ với tình người nơi thành phố quen thuộc đã bị đổi tên lạ hoắc, từ đó ông tự ngâm nga vài câu thơ:

  • “Tưởng đầu đường thương xó chợ,
  • có ai ngờ chúng chẳng yêu nhau”…

Và còn những câu thơ rất nhân bản viết trong dòng người loạn thần , khủng hoảng:

  • “Để quên mái tóc trên đầu
  • Để quen chéo áo phía sau túi quần
  • Để quên một câu chúc mừng
  • Bỗng nhiên bật khóc người dưng qua đời”…

Uhm, chỉ nghe ông Ba nói đăng phân ưu cho ông Phạm Công Thiện thôi mà tự nhiên đem cả một kho suy tưởng “vu vơ” làm “điểm tâm” với cây cỏ, với vườn tượt.

Đội Mũ Ngược

Advertisements
This entry was posted in 6- Văn Học, Bút Ký. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s