BÙI GIÁNG… MỘT THÁNH THI ĐIÊN VIỆT NAM !

Bùi Giáng sinh năm(1926-1998) tại Thanh Châu, Duy Xuyên, tỉnh QuảngNam. Wikipedia tiếng Việt có tóm tắt thơ và đời ông.
Ông thường tự nhận là “trung niên thi sĩ” cùng hàng loạt biệt danh trào lộng: Thi sĩ đười ươi, Brigitte Giáng, Giáng Moroe, Bùi Bán Dùi, Bùi Bàn Dúi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn Lê, Bùi Bê Bối, Bùi Văn Chiêu Lỳ…

Về sở học của nhà thơ, quả thật là thông đạt quảng bác vô cùng, làu thông nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Hán.Ông là một nguời tự học và học rất trễ. Không biết ông tự học từ lúc nào mà trở thành một bậc thượng trí, hầu như vô sư tự ngộ. Từ đó, trọn suốt cuộc đời thi sĩ cứ phiêu diêu trên con đường thênh thang sáng tạo, bước đi thi ca tỏa rợp trời thơ đất mộng bồng bềnh.Ông được xem như một “ngôi sao” trên vòm trời văn hoá văn nghệ VN
Ngoài sáng tác thơ, ông còn viết khảo luận, dịch thuật, nghiên cứu văn học và đi dạy học, nhưng chủ yếu là chơi. Ông dạo chơi như một vị thiền sư, một lão ‘điên rực rỡ”, lang thang vui chơi bất tận.

Là thi sĩ kỳ dị trong thơ và đời.Ông được văn giới, không phân biệt không gian thời gian, yêu mến trọng vọng. Những tác phẩm đầu của ông là sách giáo khoa in năm 1957, như “Một vài nhận xét về Bà huyện Thanh Quan”, “Lục Vân Tiên”, “Chinh phụ ngâm”,… nhưng tiếng tăm ông nổi bật từ tập thơ”Mưa nguồn”(1962), “Lá hoa cồn” (1963)..đến “Trăng châu thổ”, “Sương bình nguyên”, “Bài ca quần đảo”, “Rong rêu”…
Ông đã biên soạn các tiểu luận triết học và văn học như “Tư tưởng hiện đại”, “Thi ca tư tưởng”, “Lễ hội tháng ba”, “Con đường ngã ba”, “Con đường phản kháng”, “Đi vào cõi thơ”…

Bùi Giáng thường nhắc đến ai trong những triết gia phương Tây?
Heidegger! Dasein – danh từ trụ cốt trong tư tưởng Heidegger
Martin Heidegger (1889 – 1976) là triết gia vĩ đại nước Đức, người đã gây ảnh hưởng sâu rộng nhất trên tư tưởng nhân loại trong suốt thế kỷ 20 và là người đã “kiên nhẫn dùng nhiều phương tiện thiện xảo, để gỡ bỏ bao gai góc trên mảnh đất siêu hình học phương Tây, giúp bạn đọc tìm về cõi uyên nguyên của tư tưởng . Còn Bùi Giáng: “Heidegger khoát nhẹ một nửa bàn tay đủ lật nhào hai ngàn năm rưỡi tư tưởng triết học Tây phương và dựng lên một cõi gì chưa có danh hiệu chỉ định. Nhưng mà ông cứ giả vờ lất lay, lần mò lóng cóng đún đẩy rất mực ngược ngược xuôi xuôi”.

Năm 1963, bộ sách 2 tập dày ngót ngàn trang Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại ra đời. Đây là một cuốn sách vừa uyên thâm vừa kỳ lạ. Hãy đọc một đoạn văn ở phần Lời tựa: “Đã là con người quay chong chóng trên quả địa cầu tròn, có một ai không cảm thấy mình là lá cỏ lá rêu mù sương lá lách, lau cồn lìa kim dứt cải…Vậy phải biết nhắm hai con mắt lại để làm một cái giây leo như Tố-Như leo khắp mình mẩy Hoa Thi Đường Thi không chừa một chỗ”.
Ông cũng đã dịch nhiều sách Pháp, Anh, Hán văn như “Hamlet” của Shakespeare, “Hoàng tử bé” của Saint Exupéry, “Ngộ nhận” của Albert Camus, “Khung cửa hẹp”, và “Hoà âm điền dã” của André Gide, “Kim kiếm điêu linh” của Ngoạ Long Sinh…

MỘT NĂNG LỰC PHI THƯỜNG CỦA KẺ SUỐT NGÀY RONG CHƠI

Có một điều không ai hiểu nổi vì suốt ngày thâu đêm, người ta chỉ thấy một Bùi Giáng lang thang rong chơi,thường ngâm thơ uống rượu lu bù với mọi giới bình dân đây đó, bạ đâu ngủ đấy ngay ngoài vỉa hè xó chợ, góc quán hiên chùa, rong rêu lêu lổng khắp đầu phường cuối phố, ngao du trào lộng giữa ta bà, quá độ nồng say như Tản Đà, Lý Bạch nhưng vẫn thung dung :
Uống xong ly rượu cuối cùng
Bỗng nhiên chợt nhớ đã từng đầu tiên
Uống như uống nước ngọc tuyền
Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau

Uống xong ly rượu cùng nhau
Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời
Em còn ở lại vui chơi
Suốt năm suốt tháng suốt nơi lan tràn

Riêng anh về suốt suối vàng
Trùng phùng Lý Bạch nghênh ngang Tản Đà

Từ năm 1962 trở đi, Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi năm đều đều vài ba cuốn. Càng về sau càng nhiều hơn. Nói về số lượng, thì ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam trước 1975. Sách của ông có thể chất thành chồng cao cả mét, thơ thì phải kể bằng đơn vị ngàn bài.Tổng số sách Bùi Giáng viết hoặc dịch đã được in lên tới trên dưới 70 cuốn.

Chưa khi nào người ta thấy Bùi Giáng sáng tác nhưng lại có số lượng tác phẩm đáng kể đến vậy. Ông vừa làm thơ, vừa dịch tiểu thuyết, tiểu luận, khảo cứu triết học… Ông có thể làm thơ trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Câu chuyện do nhà văn Mai Thảo gần gũi với Bùi Giáng trước năm 1975 kể sau đây dẫn chứng cho nhận định trên .

Nhà văn này cho biết, khi một tạp chí văn học thực hiện số chuyên đề về Bùi Giáng vào năm 1973, ông được phân công giới thiệu những bài thơ mới nhất mà Bùi Giáng sáng tác.. Nhưng Bùi Giáng sống rày đây mai đó, không có một địa chỉ nào cố định, biết ông ở nơi đâu mà tìm. Thật là nan giải. Đang loay hoay chưa biết kiếm tìm ở đâu thì thi sĩ bất ngờ ghé vào tòa soạn. Trước mắt mọi người là một bộ da bọc xương trong quần áo rộng thùng thình, một mái tóc dài đạo sĩ rối như tổ quạ, một cái túi vải cộng với một cây gậy. Nhà văn mỉm cười kéo Bùi Giáng ra trước tòa soạn chụp chung một tấm hình làm kỷ niệm rồi mới hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Bùi Giáng gật đầu đồng ý liền.

Tưởng rằng Bùi Giáng sẽ lấy những bài thơ đã chép sẵn ở túi vải ra hoặc nếu không có sẵn thì ông nói để chờ ông về nhà lấy đem tới liền hoặc là ông sẽ khất hôm sau đem thơ đến. Nhưng tất cả mọi dự đoán đều không đúng. Bùi Giáng chỉ hỏi mượn tòa soạn một cây bút, xin một xấp giấy và một… chai bia. Xong rồi ông bắt đầu ngồi xuống bàn. Và ông viết. Không phải là ông ngồi nhớ để chép lại những bài thơ làm từ hôm qua hôm kia hoặc tuần trước, mà là ông ngồi để sáng tác thơ ngay tại chỗ.

Bấy giờ mọi người mới kinh ngạc nhìn nét bút, trong tay ông “thoăn thoắt, vùn vụt, nhanh không thể tả”, và những câu thơ lần lượt hiện ra trên giấy mà theo lời nhà văn trên là “như thơ không thể từ đầu, từ tim chảy xuống, xa quá, lâu quá, mà ngay từ ngọn bút, từ đầu ngón tay thôi”. Chai bia còn sủi bọt thì Bùi Giáng còn ngồi viết không ngừng. Thơ cũng tuôn ra không ngừng trên những trang giấy. Nét chữ cũng nắn nót chỉn chu chứ không phải gạch đi xóa lại. Sau khi chứng kiến “gã phù thủy” Bùi Giáng sáng tác thơ ngay tại chỗ, nhiều người trong tòa soạn bấy giờ mới hiểu được một phần bí ẩn của con người ông. Một người khác chứng kiến chuyện này tâm sự: “Lần đó, tôi đã thấy, đã hiểu tại sao Bùi Giáng cứ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu bồng lãng du mà vẫn có ngay nghìn câu một buổi. Đúng là ngủ ra thơ, thở ra thơ, uống la-de, hút thuốc lá ra thơ”. Chính Bùi Giáng đã nói: “Qua làm thơ cũng giống như em là kỹ sư mà làm toán lớp ba rứa thôi” rất thành thật, chẳng có một chút biểu hiện cao ngạo nào cả. Với ông, làm thơ là một công việc dễ dàng, đơn giản như ta làm toán cộng toán trừ, đặt bút vào là làm chứ không cần phải suy nghĩ.

Sau khi sáng tác đủ đơn đặt hàng của tòa soạn( 20 bài thơ), Bùi Giáng uống cạn chai bia, cười và lặp lại ba tiếng cửa miệng “vui thôi mà”, rồi đứng lên đi thẳng.
Chính nhờ khả năng viết nhanh đó mà Bùi Giáng đã cho ra đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ như trên. Giai đoạn ra sách nhiều nhất của Bùi Giáng là khoảng từ năm 1964 đến năm 1970. Riêng năm 1969 Bùi Giáng cho ra đời đến mười cuốn sách.
Thi sĩ sống không nhà cửa, không vợ con, không tài sản, không sự nghiệp, không danh lợi, không là gì cả ngoài một bầu rượu túi thơ và một bộ quần áo xốc xếch cũ mèm, rách nát tả tơi, trông giống như một Tế Điên, một gã ăn mày quái dị lạ lùng. Thế mà sức sáng tạo, sáng tác quá đỗi rạt rào như thác đổ trào tuôn, thật là vô tiền khoáng hậu. Nhà thơ viết như thần nhập, “ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng cũng ra thơ.”

BÙI GIÁNG -THI SĨ KÌ DỊ 

Cho đến ngày nay, chưa một ai có thể hiểu thấu đáo về thế giới tâm hồn ,cõi tư tưởng hiện đại thâm hậu và cõi thi ca bát ngát vô song của Ông. Có người hỏi tiểu sử thì Bùi Giáng cười đáp :
“Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây gay cấn ly kỳ và sẽ chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gay cấn… Thuở nhỏ bỏ học về nhà quê, làm thơ tặng chuồn chuồn và châu chấu.” Hỏi về sự sáng tác phi thường thì lai rai nói : “Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ nhưng thơ là gì, thì đó là điều ta không biết.”
Bùi Giáng đã gây ấn tượng mạnh với chữ nghĩa lãng đãng từ bản khai lý lịch không “đụng hàng” với bất cứ ai
Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa
Gọi tên là một, hai, ba
Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.

tên ông là một màu xanh biển dâu, quê thì ở cõi mộng rất xa…Có vẻ như ông diễn giải nó theo cái cách riêng ” vui thôi mà” hóm hĩnh.
Mở đầu cho Mưa nguồn, thi phẩm đầu tiên của Bùi Giáng được xuất bản năm 1962, ngoài lời đề từ giỡn cợt “rất Bùi Giáng” là “tặng ba người con gái – chiêm bao ở bờ cỏ Phi Châu”,ông còn gửi lời chào trong tập thơ này đến mọi người tương giao theo điệu chào sơ ngộ xưa sau :
Hỏi rằng : Người ở quê đâu
Thưa rằng : Tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng : Từ bước chân ra
Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài

Thưa rằng : Nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào..
Xin chào nhau giữa lúc này
Có ngàn năm đứng ngó cây cối và

Có trời mây xuống lân la
Bên bờ nước có bóng ta bên người
Xin chào nhau giữa bàn tay
Có năm ngón nhỏ phơi bày ngón con (…)

Xin chào nhau giữa làn môi
Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam (…)
Xin chào nhau giữa bụi đầy
Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu (…)

Hỏi rằng : Đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng : Ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân …
( Chào Nguyện Xuân)

Nguyên Xuân là mùa xuân rực rỡ sơ nguyên trong lòng người.Từ cõi quê lòng thanh tịnh đó, thi sĩ bước ra hòa điệu cùng cát bụi phù hoa phố thị,gởi lời chào hiện tại, chào mai sau và hẹn ” trùng ngộ” giữa mùa xuân . Bùi Giáng còn rút ra hai câu Chào Nguyên Xuân như một lời chào tất cả (và có lẽ toàn bộ chữ nghĩa) của ông:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau
Đấy là cái tâm thế của một người tung tăng trên đường đời, chào gặp và giã biệt bất cứ ai dù lạ hay quen trên con đường luôn có một mùa xuân vẫy gọi tíu tít ở phía trước, trong khi phía sau là những giấc ngủ dài…
Đời sống phiêu bồng của Bùi Giáng vang vọng trong thơ ông. ông như một người lữ thứ đi trong cuộc đời, không biết từ đâu đến và cũng không biết đi về đâu:
Ngày sẽ hết và tôi không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu.
(Phụng hiến).

Mang theo nỗi lòng trong những chuyến “luân hồi” ấy, Bùi Giáng bước ra đường phố, say sưa cười nói, khó có ai hiểu ông muốn gì. Lúc ông chửi bới này kia khiến có người ngỡ lầm là ông chửi họ, nên nổi sân si, xúc phạm, đánh ông bị thương phải vào bệnh viện như một tay bán hủ tiếu nọ. Người ta giục ông viết đơn kiện, nhưng ông lắc đầu nói hãy tha cho nó, vì “nếu mà kiện không chừng công an sẽ bắt nó lấy ai nuôi con nó, rồi lỡ nó ngồi tù nữa thì lấy ai bán hủ tiếu cho bà con ăn”.

Nguyễn Quang Thanh nhận xét: “Nói cãi vã, nhưng thật ra, chắc là, ông chẳng định ý tranh biện cãi vã với ai. Vì có lẽ, đối với ông, còn có gì đâu để cãi vã, khi mà mọi lẽ đời xuôi ngược ỡm ờ đã được ông tự đặt mình vào những tình huống đối nghịch tương ứng khác nhau, và rồi, ông đã mổ xẻ quá đầy đủ qua những tác phẩm kiệt xuất của ông. Ông đã tự đối thoại, tự tranh biện, tự đặt tâm hồn và thân xác mình vào những vị trí và vai trò khác nhau của cõi đời hư thực, trụ vào những vị trí khác nhau, trụ vào những vị trí không vị trí, trụ vô sở trụ, để cười, để khóc, để suy tư, để chiêm nghiệm, để sáng tạo, một cõi sáng tạo vừa xa vừa gần với cõi xứ mà những thiên tài kim cổ thường hội ngộ”.
“Người qua tôi cũng đi qua
Người dừng tôi cũng qua loa tạm dừng”

Sự bất thường trong cái vô thường của một con người đã khiến Bùi Giáng trở thành một con người “nhoà” trong tất cả .
Chuyện hạ bút thành thơ của ông được xác định như là một hiện tượng độc đáo…Ông viết như viết trong chiêm bao: nơi đó mọi thứ đã trộn lẫn. Một thứ trộn lẫn đầy cảm động và mãnh liệt.” Hãy quên tất cả những gì mà từ trước đến nay đã biết. Hãy quên đi rồi hãy viết. Đừng có chằm hăm vào một cái gì, một chỗ nào. Hãy nên chằm hăm vào rạt rào, như vậy, như vậy… – Vậy vậy!”.

TÌNH YÊU THA THIẾT

Đọc thơ Bùi Giáng, người ta nghĩ ông chỉ có những tình yêu viễn mộng. Ít ai biết ông đã có một người vợ đẹp và những bài thơ tình hay nhất của ông là dành cho vợ. Người phụ nữ ấy chỉ sống với ông trên đời có 3 năm.
Hình tượng của bà và tình thương yêu, tiếc nuối ông dành cho bà là nội dung chủ đạo trong 4 tập thơ của ông: Mưa nguồn, Lá hoa cồn, Ngàn thu rớt hột và Màu hoa trên ngàn (in tại Sài Gòn từ năm 1962 – 1964).

Bùi Giáng có thể gặp gỡ, giao lưu với những người phụ nữ khác .Thế nhưng, tình yêu và nỗi xót xa dành cho người vợ thì rất đỗi mặn mà, vô cùng tha thiết:
“Mình ơi, tôi gọi bằng nhà
Nhà ơi, tôi gọi mình là nhà tôi”.

Sau cái chết của người vợ trẻ, ông dẫn một bầy dê lên Nông Sơn chăn thả, ngao du qua những đồi núi, suối khe mơ màng để nhớ thương vợ. Hai năm sau đó nữa, ông gửi bầy dê lại cho… chuồn chuồn và châu chấu, bỏ quê nhà đi chơi tiếp. Ở đâu, ông cũng phục hiện những hình ảnh yêu dấu xưa. Bài thơ nhớ vợ có một không khí rất đỗi bi ai, tràn đầy hoài cảm:
“Em chết bên bờ lúa.
Để lại trên lối mòn.
Một dấu chân bước của.
Một bàn chân bé con!

Anh qua trời cao nguyên.
Nhìn mây buồn bữa nọ.
Gió cuồng mưa khóc điên.
Trăng cuồng khuya trốn gió.

Mười năm sau xuống ruộng.
Đếm lại lúa bờ liền.
Máu trong mình mòn ruỗng.
Xương trong mình rả riêng.

Anh đi về đô hội.
Ngắm phố thị mơ màng.
Anh vùi thân trong tội lỗi.
Chợt đêm nào, gió bờ nọ bay sang”.

Bùi Giáng bỏ cố quận ra đi biền biệt. Ra đi nhưng ông vẫn nhớ, đến tha thiết não nùng. Nhớ nhưng ông không dám trở về bởi nơi nào ở cố quận cũng nhắc ông nghĩ đến tình yêu của người vợ khổ.
Ông gọi bà với nhiều tên gọi khác nhau. Đầu tiên, bà được gọi là “gái trần gian”. Ông có thể gặp gỡ, cười đùa, tán tỉnh cả trăm người phụ nữ khác nhưng lòng ông chỉ yêu và chỉ nhớ mỗi mình bà, đặc biệt những khi ông còn lại một mình, đối mặt với chính tâm thức cô đơn của mình:
“Đùa với Tuyết, giỡn với Vân.
Một mình nhớ mãi gái trần gian xa.
Sương buổi sớm, nắng chiều tà.
Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu?”.

Thứ hai, ông gọi bà là “con mọi nhỏ”. Người Duy Xuyên có lệ thương yêu ai thì gọi người ấy là “con mọi”, “thằng mọi”. Tôi lấy làm tiếc nếu ai đó hiểu nhầm chữ “mọi” là mọi rợ trong thơ Bùi Giáng:
“Mọi em là mọi sương xuân.
Ban sơ núi đỏ chào mừng non xanh”.

Thơ ông viết cho “con mọi nhỏ” của mình tràn đầy nỗi thương xót và tình yêu dấu:
“Giờ ly biệt, ta xin em đừng khóc.
Nào phải không? Lệ chảy có vui gì?
Trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc.
Nước xuôi dòng, ngàn thu hận ra đi”.

Ông phong tặng người vợ của mình – con mọi nhỏ, lên thành mẹ của giang san: “Em thành Mẹ của giang san. Em là thần nữ đoạn trường chở che”. Thơ ông viết cho vợ càng lúc càng trang trọng. Tất cả cái mẫu tính dịu dàng, hồn nhiên, tươi đẹp, đôn hậu toát lên từ con người của bà Bùi Giáng khiến ông cảm phục vợ. Từ một con người cụ thể, mảnh mai, bà vụt trở thành hình tượng cao quý nhất trong lòng ông, trong thơ ông:
“Em thuyền quyên ban mưa móc xum xuê.
Em rắc gieo khắp xứ sở bốn bề.
Suốt địa hạt tình quê hương ba ngõ.
Anh quỳ xuống gọi em: Em mọi nhỏ”.

“Nỗi buồn khôn tả từ đâu
Đi về phảng phất nỗi sầu thiên thu
Giữa đêm chén tạc chén thù
Một mình độc ẩm sương mù dưới trăng

Nỗi thương nỗi nhớ hằng hằng
Nhớ thương vô cớ cầm bằng như không”
“Mở môi em mỉm miệng cười
Tình yêu từ đó vẹn mười muôn năm

Yêu em yêu mãi tấm lòng
Yêu em quá độ long đong suốt đời
Nhớ em nhớ suốt mây trời
Suốt trăng vĩnh viễn suốt nơi nào là”

Lắm khi ở phương xa, ông nhớ thương, thương nhớ người vợ quê khôn nguôi. Qua mấy mươi năm, hình ảnh người vợ trẻ, hiền ngoan ấy vẫn sống trong lòng ông. Ông uống trà giữa Sài Gòn mà hình ảnh của bà ngày xưa ở Quảng Nam như hiển hiện trước mắt:
“Trung niên thi sĩ uống trà.
Thưa em mọi nhỏ, em đà uống chưa?”.

Một nửa cuộc đời ông, một nửa trái tim ông dành để nhớ bà. heart emoticon
Nổi lòng của Bùi Giáng cũng giống như một tiếng lá rơi dội trong sương mù của đời sống. Tiếng dội ấy sẽ còn vang rất xa, rất sâu.
Ta đi còn gửi đôi giòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù…

Dân tộc Việt đã mất rất nhiều, và quá nhiều thi nhân, trong đó có Thánh Thi điên BÙI GIÁNG. Có thể nói rằng, trong văn học Việt nếu thiếu đi những bút tích, và ngàn ngàn án thơ của Bùi Giáng, chắc văn chương lạc hồng ta sẽ có chỗ khuyết rất lớn, và không khỏi khập khiểng khi nhắc đến Thi Văn Tào Đàn Việt Nam…

| phan nguyên luân |… tổng hợp và thực hiện

Advertisements
This entry was posted in 6- Văn Học, Chốn Văn Chương. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s