THƯƠNG NỮ BẤT TRI… LÀ AI?

Thương nữ bất tri … là ai?

Nhân bạn Đinh Tường chuyển đến bài viết củ của cố Bùi Bảo Trúc có đoạn văn như vầy:

“ Chuyện ca hát thì Viêt Nam không có bài Hậu Đình Hoa để vọng từ bên kia sông sang, nhưng bọn thương nữ và thương nam (?) còn tệ hơn cả đứa ca nhi trong thơ Đỗ Mục. Chúng vẫn nhởn nhơ ca hát như con ve trong bài ngụ ngôn của Jean de La Fontaine. Không một tên tuổi lớn nhỏ nào trong nước cũng như hải ngoại dám cất lên một tiếng nói về chuyện cá chết ở Vũng Áng, về phán quyết của tòa án quốc tế liên quan đến tham vọng của Bắc Kinh, về thân phận của những ngư dân khốn khổ, về môi trường đang bị tàn phá một cách có hệ thống, về đất nước đang bị bán đứng cho ngoại bang… Chúng vẫn đàn ca hát xướng như không có gì đang xẩy ra ở đất nước Việt Nam. Chúng nó sợ bị cấm ca hát, không được cho về nước kiếm tiền nữa. “

Sách có chữ: Xướng ca vô loại.

Vậy, cố Bảo Trúc mắng chúng làm gì?!

Thật ra thì xướng ca cũng có nhiều loại, quơ đủa cả nắm mích lòng những nghệ sĩ thật sự tài hoa.

Để khỏi mích lòng xoay qua đề tài văn chương, chữ nghĩa cầu vui.

Nhà thơ đời vãn Đường ghi lại cảm nghĩ trong bài thất ngôn tứ tuyệt mà ông đặt tựa là Bạc Tần Hoài, đậu thuyền trên sông Tần Hoài:

Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa
Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia
Thương nữ bất tri vong quốc hận
Quá giang do xướng Hậu Đình Hoa

Bài thơ xin được tạm dịch:

Khói loang sông lạnh, trăng trên cát
Thuyền đậu qua đêm cạnh tửu gia
Ca nữ không hay hờn mất nước

Bên sông vẫn hát Hậu Đình Hoa

( Bùi Bảo Trúc )

Thuở nay, ai cũng hiểu “ Thương nữ “ là cô gái buôn bán “ trên sông hay nói nghĩa bóng là kỷ nữ – Ca nhi.

Gần đây, xãy chiện: Thương nữ không phải là kỷ nữ, ca nhi mà là CÔ GÁI DÂN NHÀ THƯƠNG.

Nhân đọc bài của cố Bùi Bảo Trúc, gã quê mùa tra lại vụ nầy, gặp bài khảo cứu của học giả Khổng Trung Linh có đoạn phân tích về vụ “ Thương nữ “ như sau:

“ Thời gian qua nhanh, chúng tôi xuất trại và đường đời mỗi người mỗi ngã. Riêng hai câu thơ trên tôi vẫn còn ghi nhớ trong lòng, định bụng một ngày nào đó có dịp sẽ truy cứu xem tựa đề bài thơ là gì, tác giả là ai?

Cơ hội đến với tôi một cách tình cờ. Một người bạn thân tặng tôi cuốn Duy Văn Sử Quan của cụ Hoàng Văn Chí, một nhà cách mạng lão thành từng theo Việt Minh chống Pháp. Sau này, từ bỏ Việt Minh và di cư vào Nam năm 1954. Tại miền Nam, cụ thất vọng với chế độ Ngô Đình Diệm nên tìm cách bỏ ra hải ngoại. Cụ trải qua một thời gian ở Ấn Độ, và tìm hiểu thêm nhiều ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ và Phật giáo trên văn hóa Việt. Cụ cũng từng sống tại NhậtPháp và một thời gian dài tại Hoa Kỳ.

Trong chương IV, Tận Tín Thư, cụ Hoàng Văn Chí đả phá vấn đề tin vào sách vở một cách mù quáng.

Đường Thi có câu:

Thương nữ bất tri vong quốc hận, 
Cách giang, do xướng Hậu Đình Hoa


Hỏi Cụ đồ: Thương nữ là gỉ?
Chiếu theo sách, Cụ đồ giảng: Thương là buôn bán. Thương nhân là lái buôn. Thương nữ là con gái đi buôn.
Hỏi thêm: Tại sao con gái đi buôn lại ca hát ở tửu điếm?
Cụ đồ bảo: Tại mấy cô ấy buôn son bán phấn.
Hỏi tiếp: Tại sao mấy cô buôn son bán phấn, tức là “gái mãi dâm” lại có “hận vong quốc”? Các cô ấy mất nước với ai? Từ bao giờ?
Sách không giảng nên Cụ đồ quát: Hỏi gì mà hỏi lắm thế? 
Không phải chỉ có Cụ đồ Việt Nam lúng túng, mà tất cả những người Tàu chúng tôi hỏi đều lắc đầu. Lý do là tại chữ thương có hai nghĩa khác nhau.

1) – Người thuộc chủng tộc Ân, thành lập triều đại nhà Thương, ở lưu vực Sông Hoàng từ Thế kỷ 16 trước Tây Lịch.
2) – Nghề buôn. Thương nhân là người đi buôn.
Tại sao một chữ mà có 2 nghĩa khác nhau?

Tại vì sự thể như sau: Theo nguyên nghĩa “Thương nhân” là “Người thuộc chủng tộc Ân”, những người đã lập nên một nước, có triều đại thường gọi là Nhà Thương. Do đó, lúc đầu, “Thương nhân” có nghĩa là “Dân của nước Thương, của Triều đại Nhà Thương”. 

Người Thương, tức là “Người Nước Thương”, đã phát triển văn hóa nông nghiệp, nghĩa là đã định cư và khai thác ruộng đất. Thế kỷ 11 trước Tây Lịch, họ bị người Chu là rợ du mục từ Thiểm Tây tràn vào, cướp nước và giết họ, nhiều đến nỗi “máu chảy thành suối làm trôi cả chày giã gạo”Hơn nữa, vì người Chu là dân du mục, chỉ sống về chăn nuôi, không làm ruộng, không công nhận tư hữu tài sản về ruộng đất, nên thả dê, bò, phá hoại mùa màng của người Thương. 

Người Thương phải chạy thoát thân. Nhiều nhóm chạy bằng thuyền sang Đài Loan, hoặc dọc theo ven biển, sang tới California và Guatemala. Người ta biết như vậy, vì các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở bờ biển California và Guatemala những tảng đá hình tròn, to như bánh xe hơi, ở giữa có khoét lỗ tròn, mà người Thương dùng để neo thuyền. Vì ra đi tay không, người Thương phải kiếm sống bằng cách đi chợ nọ, chợ kia, buôn bán, kiếm chút tiền lời.

Vì vậy nên chữ “Thương nhân”, nguyên nghĩa là “người nước Thương”, về sau có nghĩa là “lái buôn”. Cũng như chữ Juif của tiếng Pháp, nguyên nghĩa là người Do Thái, sau này lại có nghĩa là “người bủn xỉn”, vì lẽ họ là những người mất nước, mất cơ nghiệp, phải di tản khắp nơi, nên phải ăn tiêu dè xẻn. Họ không xài lớn như nhiều người Việt tị nạn ở Mỹ, vì họ không quên “vong quốc hận”. 

Trong khi đàn ông Thương phải ngược xuôi buôn bán, đàn bà con gái phải đi làm “gái bar”, ca hát ở mấy tiệm rượu, để kiếm thêm chút đỉnh góp vào quỹ gia đình, nuôi con cái. Về đời Đường, người Hán chưa có chủ trương cố tình “Hán hóa” các sắc tộc phi Hán, nên người Thương còn được coi là một sắc tộc riêng biệt, và chữ Thương nhân còn hiểu theo nguyên nghĩa: Người thuộc chủng tộc Ân, đã lập nên triều đại nhà Thương.

Đỗ Mục, tác giả bài Đường thi kể trên dùng chữ “Thương nữ” với nghĩa “Cô gái thuộc chủng tộc Thương”. Ông có ý chê mấy cô không nhớ nhục mất nước, và lòng hận thù người Chu, nỡ mang nhan sắc và giọng ca, hát, vào những bài ẻo lả như bài Hậu Đình Hoa để mua vui cho mấy chú Hán tộc, con cháu người Chu cướp nước. Có hiểu chữ “Thương” theo nguyên nghĩa mới hiểu tại sao Đỗ Mục lại chê mấy cô đã “quên vong quốc hận”.

Sau này, tự điển Tàu chỉ giảng Thương nhân là “lái buôn”, bỏ hẳn nghĩa “Thương nhân là người thuộc chủng tộc Thương”, vì người Hán muốn xóa nhòa cái tội đã cướp nước, và đã tàn sát người Thương. Chỉ vì tự điển Tàu bỏ hẳn nghĩa cũ, mà các thày đồ Ta đâm ra lúng túng.“

Đọc xong mấy trang sách, tôi thẫn thờ vì từ trước đến giờ nhiều học giả, thi nhân Việt Nam vẫn đinh ninh rằng Thương nữ là con gái thương nhân, gái buôn, hoặc bạo dạn hơn là gái ca, đào hát . “

..

Vậy đó, vì mất nước lưu ly ra hải ngoại, sầu nhớ xứ đọc lại vần thơ củ mà tìm tòi ra được ý nghĩa mới kể cũng hay!

Nguyễn Nhơn

Tháng Gieng Canh Tý

11/2/2020

This entry was posted in 6- Văn Học, Chốn Văn Chương. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s