ĐẠO PHẠT LÀ GÌ ?

I). ĐẠO PHẬT LÀ GÌ? Đạo là con đường như con đường cõi Trời, con đường cõi Người, cõi Súc sinh, Địa ngục v.v…Chữ Đạo này có nghĩa vừa tốt (con đường cõi Trời), lại vừa xấu (con đường cõi Ngạ qủy, Súc sinh, Địa nguc). Do đó chữ Đạo có nghĩa này không phải là chân lý.    Đạo là bổn phận như bổn phận người cai trị dân, bổn phận người dân, bổn phận làm vợ làm chồng, bổn phận làm cha mẹ, làm con v.v…; chữ Đạo trong nghĩa này thường chịu ảnh hưởng của tập quán, mà phong tục địa phương này không giống địa phương khác, tập quán nước này không giống nước khác; vì vậy chữ Đạo với nghĩa này cũng không phải là chân lý.    Đạo là chân lý tuyệt đối: dù ở bất cứ chỗ nào, dù thời gian thay đổi, nó vẫn đúng, đó là chữ Đạo mà chúng ta muốn nói tới ở đây.    Phật là gì? Chữ Phạn là Buddha, là Giác, hiểu biết cùng tột; Giác có nghĩa là tự giác, tự làm cho mình ngộ; Giác có nghĩa là giác tha, làm cho người khác cũng ngộ; Giác có nghĩa là giác hạnh viên mãn, giác ngộ hoàn toàn cho mình và cho người, chỉ có Phật mới đầy đủ giác hạnh viên mãn.    Đạo Phật còn gọi là Phật giáo, do Phật đặt ra để chỉ lối cho tất cả chúng sanh, những ai thực hành đúng đắn đầy đủ được nhiều lợi ích và đạt được chân lý tối thượng. 

II). HÌNH THÀNH KINH ĐIỂN, GIÁO LÝ:

1). SỰ HÌNH THÀNH KINH ĐIỂN:  

   Do ba lần kết tập chính: 

1. Kết tập lần thứ nht:     Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn khoảng ba tháng, năm 543 trước Dương lịch, đệ tử Đức Phật, Tôn giả Đại Ca Diếp là vị Tổ thứ nhất hướng dẫn Tăng đoàn. Tôn giả thấy có một vài Tăng tụng sai lời dạy của Phật thì lo sợ Phật pháp sẽ bị diệt mất, nên nói với các vị Thánh Tăng rằng: “Đức Thế Tôn đã nhập diệt rồi, tôi khuyên các vị hãy ngồi lại với nhau kết tập những lời của Đức Thế Tôn đã thuyết pháp giảng dạy để truyền bá về sau, không nên để giáo pháp của Ngài đoạn diệt mất”    Tôn giả Đại Ca Diếp cùng các vị Thánh Tăng bèn nhờ vua A Xà Thế nước Ma Kiệt đứng ra triệu tập tất cả Tăng chúng từ các nước đến để tổ chức đại hội kết tập những lời giảng của Phật trong suốt 45 năm hành Đạo của Ngài.    Lúc ấy chỉ có 500 vị A La Hán Thánh Tăng được dự vào việc kết tập trong động Thất Diệp thuộc núi Kỳ Xà Quật gần thành Vương Xá nước Ma Kiệt.    Bắt đầu kết tập Luật Tạng do Tôn giả Ưu Ba Ly (Upãli) là Trưởng lão giữ Giới Luật của Phật đọc các Giới Luật và tất cả Thánh Tăng duyệt xét, thêm bớt cho đúng với lời dạy của Phật. Phần kết tập Kinh, Luận, do Tôn Giả A Nan là Thị giả của Phật đọc và tất cả Thánh Tăng duyệt xét thêm bớt cho đúng với lời dạy của Phật. Khi kết tập xong, giáo lý của Phật được xếp phân loại làm ba tạng gọi là Tam Tạng “Luật, Kinh, Luận”.    Có sách cho rằng khoảng 100 năm sau ngày Phật nhập diệt, có kết tập lần thứ hai, nhưng nhận thấy đây chỉ là sự kiện một nhóm 700 Tu sĩ ở một địa phương Bạt Kỳ (Vajji) thuộc nước Tỳ Xá Ly (Vasali) đưa ra mười điều sửa đổi Luật của Phật. Nên có sự bất đồng giữa Tôn Giả trưởng lão Da Xá tuổi Hạ 120 năm (mỗi năm an cư học giáo lý trong ba tháng là một tuổi hạ) và nhóm Bạt Kỳ.     Sau đó Tôn Giả Da Xá đến gặp Tôn giả trưởng lão Ly Bà Đa tại Ấp Ba Lợi, rồi hai vị cùng đến Bạt Kỳ lập “hội đồng” bàn luận gồm 8 người. Nhóm Bạt Kỳ 4 người, Tôn giả Nhất Thiết Khứ tuổi Hạ 136 năm đại diên; nhóm Ấp Ba Lợi 4 người Tôn giả Ly Bà Đa tuổi Hạ 120 năm đại diện.      Tôn Giả Ly Bà Đa hỏi, Tôn Giả Nhất Thiết Khứ trả lời về mười điều sửa đổi Luật đều phi pháp hết; do đó các vị tu hành ở Bạt Kỳ phải tôn trọng tất cả những Luật Phật đã đặt ra, không được sửa đổi; vì vậy việc này không nên coi là kết tập, mặc dù phải chấp hành luật đầy đủ, nhóm Bạt Kỳ sau đó tách ra thành Đại chúng Bộ. 

2. Kết tập lần thứ hai:     Sau 236 năm, vào năm 307 trước Dương lịch, 1000 vị A La Hán Thánh Tăng do Trưởng lão Mục Kiền Liên Đế Tu (Moggaputta Tissa) đứng đầu kết tập lại, tại Lâm viên thành Hoa Thị nước Ma Kiệt, bằng tiếng thổ ngữ chữ Bắc Phạn (Sanscrit), do Vua A Dục (Asoka) khởi xướng và bảo trợ; chữ Tam Tạng Kinh (Tipitaka) có nghĩa là ba cái bồ (giỏ), mỗi bồ đựng một Tạng “Kinh, Luật, Luận”. 

3. Kết tập lần thứ ba:     Sau 460 năm ngày Phật nhập Niết Bàn, năm 83 trước Dương lịch. Vì có khuynh hướng nói trái nhau làm sai lạc Giáo pháp, nên Vua Ca Ni Sắc Ca (Kanishca) thỉnh Hiếp Tôn giả (Parsva) và chọn được 500 vị A La Hán Thánh Tăng là những người có đủ Tam Minh Lục Thông, tinh thông nội giáo Tam Tạng, ngoại điển quán triệt Ngũ Minh.      Lần tập kết này do Ngài Thế Hữu làm đệ nhất và Hiếp Tôn giả làm đệ nhị. Kết tập tại thành Ca Thấp Di La (Kasmira) nước Kiền Đà La (Tích Lan?), lần này bằng chữ Nam Phạn (Pali); sau khi kết tập xong ba Tạng được chép vào lá đồng mỏng (có sách ghi vào lá bốỉ) gồm mười vạn bài tụng, có 9.600.000 chữ. 

2). SỰ HÌNH THÀNH GIÁO LÝ:    Như trên, chúng ta đã thấy sự thành hình giáo lý của Đạo Phật, trong cả ba lần kết tập, lần đầu là căn bản, hai lần sau chỉ là bổ túc chút ít, giải thích cho rõ ràng hơn và dùng ngôn ngữ khác nhau mà thôi. Tam tạng dịch từ Bắc Phạn gồm bốn bộ là: “Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tạp A Hàm, Tăng Nhất A Hàm”; Tam tạng dịch từ Nam Phạn có năm bộ Kinh là “Trường bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ, và Tiểu Bộ. Trong Tiểu Bộ có 15 quyển. Tam Tạng Kinh điển chia ra như sau: 

1. Luật:     Là những giới luật Đức Phật đặt ra cho Phật tử xuất gia và tại gia giữ gìn tu tập, phần lớn là để áp dụng cho người xuất gia, nhưng cũng có rất nhiều điều về luân lý đạo đức cao thượng áp dụng cho mọi người. Huân tước Zetland của nước Anh ở thế kỷ 20 đã phát biểu trong Quốc hội Anh rằng: “Thật là ngạc nhiên, những nguyên tắc căn bản trong Quốc Hội chúng ta ngày nay đã có sẵn trong giáo lý Phật giáo từ 2500 năm nay rồi”. 

2. Kinh:     Là những lời Phật Thích Ca dạy về dứt trừ những thói hư tật xấu để đạt được an vui. Những bài giảng đa phần cho người xuất gia hoặc cho cư sĩ, nhưng cũng có những bài giảng cho phụ nữ, trẻ em v.v…; lại có một số bài giảng của các đại đệ tử của Đức Phật đã được Ngài công nhận cũng được ghi trong Kinh. 

3. Luận:     Luận phần nhiều là do Thánh Tăng làm ra để giải thích, bàn nghĩa lý sâu rộng trong Kinh Luật để Phật tử khỏi lầm lẫn chân giả, chính tà. Luân quan trọng vì gồm phần triết lý cao siêu mà Đức Phật đã nói, rồi các vị Tổ, Thánh Tăng giải thích thêm cho được rõ ràng. Luận tạng là công trình sáng tạo của những bộ óc kỳ tài siêu phàm, người Phật tử muốn học Phật phải biết đến phần Luận tạng, nó là “vi diệu pháp” vô cùng quan trọng để mở mang trí tuệ.    Theo quyển 1 bộ Trường A Hàm trong Đại Tạng Kinh, trang 590, Đức Phật chia giáo lý ra làm 12 phần, gọi là mười hai bộ Kinh mang tính cách 12 thể loại khác nhau gồm:1. Quán Kinh, 2. Kỳ dạ Kinh, 3. Thọ ký Kinh, 4. Kệ Kinh, 5. Pháp cú Kinh, 6. Tương ưng Kinh, 7. Bản duyên Kinh, 8. Thiên bản Kinh, 9. Quảng Kinh, 10. Vị tằng hữu Kinh, 11. Thí dụ Kinh, 12. Đại giáo Kinh. 

This entry was posted in 6- Văn Học, Tôn Giáo. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s